Chính quyền địa phương không thể đứng ngoài cuộc

Tin nóng y tế
Bệnh viện Trung ương (BVTW) Huế là một trong ba trung tâm y tế chuyên sâu lớn nhất của cả nước. Đứng chân trên dải đất miền Trung, đảm đương công tác chỉ đạo tuyến cho các bệnh viện trong khu vực và Tây Nguyên, những năm qua,

(SKDS) - Bệnh viện Trung ương (BVTWW) Huế là một trong ba trung tâm y tế chuyên sâu lớn nhất của cả nước. Đứng chân trên dải đất miền Trung, đảm đương công tác chỉ đạo tuyến cho các bệnh viện trong khu vực và Tây Nguyên, những năm qua, công tác chỉ đạo tuyến, hỗ trợ cho tuyến dưới đã được BVTW Huế, triển khai sâu rộng. Bắt tay vào thực hiện Đề án BV vệ tinh (BVVT), BV TW Huế đã cử nhiều đoàn cán bộ khảo sát, nắm tình hình các địa phương. Để tìm hiểu thêm về thực hiện chỉ đạo tuyến và thực hiện Đề án BVVT sắp tới, PV báo SK& ĐS đã trao đổi với GS. TS. Bùi Đức Phú, Đại biểu Quốc hội Thừa Thiên Huế bên hành lang Quốc hội.

PV: Bộ Y tế đã, đang triển khai Đề án BVVT nhằm giảm tải cho BV tuyến TW, là BV lớn nhất khu vực miền Trung - Tây Nguyên, BVTW Huế bắt tay vào triển khai đề án này như thế nào? Ông đánh giá ra sao về sự đón nhận từ các địa phương?

GS. TS. Bùi Đức Phú: Từ nhiều năm qua, BV đã triển khai nhiều hoạt động đào tạo cán bộ cho tuyến y tế các tỉnh miền Trung gồm nhiều loại hình: ngắn hạn, trung hạn theo nhu cầu phát triển của các tuyến y tế thông qua hoạt động đào tạo lại, cập nhật kiến thức và kỹ năng cho cán bộ y tế tuyến dưới, tạo sự tin tưởng để nhân dân yên tâm điều trị, không phải dồn về tuyến TW. Căn cứ nhu cầu và năng lực của các BV tuyến trước, BVTW Huế đã xây dựng kế hoạch chỉ đạo và luân phiên tăng cường cán bộ cho các BV tuyến tỉnh, chú trọng công tác đào tạo, chuyển giao kỹ thuật theo phương thức “cầm tay, chỉ việc”.
 
Chính quyền địa phương không thể đứng ngoài cuộc 1
 GS.TS. Bùi Đức Phú.
BVTW Huế đã cử nhiều đoàn bác sĩ có trình độ cao (khoảng trên 400 lượt cán bộ, thuộc 26 chuyên khoa) tăng cường cho 14 BV tuyến trước, 2 BV tuyến khu vực, có mặt thường xuyên theo phương châm “cùng ăn, cùng ở, cùng làm” và chuyển giao trên 380 kỹ thuật mới về lâm sàng và 120 kỹ thuật cận lâm sàng cho các BV tỉnh, tham gia khám chữa bệnh (KCB) cho hơn 80.000 lượt bệnh nhân, tổ chức 70 lớp tập huấn... Riêng trong năm 2011, tổng số ngày tăng cường là 5.049 ngày (tăng 230%) và cử 68 lượt cán bộ chủ chốt tham gia hoạt động chỉ đạo tuyến cho các BV tuyến tỉnh miền Trung.

Khi Bộ Y tế bắt tay đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đề án BVVT, BV đã xây dựng đề án và bước đầu chọn 6 BV tuyến tỉnh làm vệ tinh của mình (BVĐK tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Kon Tum, Phú Yên). Chúng tôi đã nhận được sự trả lời chính thức đồng ý và hoàn toàn ủng hộ đề án từ UBND cả 6 tỉnh này. Theo đánh giá ban đầu, các địa phương đều rất hồ hởi và đánh giá cao Đề án BVVT của Bộ Y tế và xem đây là một trong nhiều giải pháp rất hiệu quả mà Bộ Y tế đã triển khai để giảm tình trạng quá tải của BV tuyến trên đồng thời nâng cao năng lực KCB cho BV tuyến dưới.

PV: Để Đề án BVVT được triển khai thành công, không thể không nhắc đến vai trò quan trọng của chính quyền tỉnh trong việc hỗ trợ tối đa cho ngành y tế. Theo ông, chính quyền tỉnh, thành cần có những hỗ trợ gì cho ngành y tế?

GS. TS. Bùi Đức Phú: Mục tiêu của Đề án BVVT là nâng cao năng lực chuyên môn và quản lý của các BV tuyến tỉnh, qua đó giúp đủ sức giải quyết các bệnh lý khó và phức tạp tại địa phương, đáp ứng nhu cầu KCB của nhân dân, bệnh nhân không phải dồn về tuyến TW, từ đó giảm quá tải cho BV tuyến trên, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng KCB của cả mạng lưới y tế. Khi thực hiện, người dân của các địa phương được hưởng lợi rất lớn từ đề án. Do đó, chính quyền địa phương phải cùng vào cuộc hỗ trợ cho ngành y tế. Ví dụ, khi bác sĩ tuyến TW về trực tiếp hỗ trợ, chuyển giao kỹ thuật, thì BV tuyến tỉnh cần bổ sung đầy đủ máy móc, trang thiết bị đi kèm... Tôi chỉ lấy một ví dụ đơn giản như vậy để thấy rằng, Đề án BVVT giải quyết rất tốt công tác KCB ngay tại địa phương, không lẽ chính quyền lại đứng ngoài cuộc?

PV: Nhưng thưa ông, còn tâm lý của người bệnh, làm thế nào giải quyết được vấn đề này, khi người bệnh chỉ tin bác sĩ TW, bác sĩ TW rút là bệnh nhân ở địa phương cũng đi theo?

GS. TS. Bùi Đức Phú: Vấn đề đó là thuộc truyền thông. Theo tôi, hiện nay không ít cơ quan truyền thông khai thác quá sâu về những tai biến y khoa ở BV tuyến dưới. Đành rằng, nói mặt hạn chế, yếu kém để cơ sở y tế rút kinh nghiệm và phát triển tốt lên nhưng nếu khai thác quá đậm, đi vào nhiều tình tiết không đáng có sẽ gây hiệu ứng ngược. Phải thấy rằng, y tế cơ sở đã làm được rất nhiều việc. Nhiều tấm gương của thầy thuốc tuyến dưới lấy máu mình hiến cho bệnh nhân; nhiều ca bệnh rất khó đã được cứu sống bởi tâm huyết và năng lực chuyên môn của các bác sĩ tuyến dưới. Do đó, trong thực hiện Đề án BVVT, công tác truyền thông phải rất được coi trọng.
 
Mặt khác, việc phối hợp thực hiện các kỹ thuật và phác đồ điều trị tại BVVT phải được BVTW phổ biến rộng rãi và thực hiện đồng bộ thông qua công tác đào tạo tại chỗ cũng như từ xa, các buổi giao ban trực tuyến giữa BV tuyến TW và BVVT phải được thực hiện thường qui hằng tuần giai đoạn đầu, tiến tới hằng ngày. Giữa BVTW và các BVVT cần xây dựng quy chế chuyển bệnh 2 chiều theo phân tuyến kỹ thuật để đảm bảo quyền lợi cho bệnh nhân được hưởng các chế độ BHYT, các kỹ thuật cao trong điều trị đúng bệnh; bảo đảm sự hài hòa giữa BVTW và các BVVT, làm cho bệnh nhân cảm thấy yên tâm tại BVVT như tại BVTW.

PV: Xin cảm ơn ông!

Anh Tuệ (thực hiện)


Ý kiến của bạn