Chiến hạm Liên Xô 90 năm tuổi sát cánh cùng tàu khu trục Triều Tiên

Quốc tế
SKĐS - Tàu quét mìn T-8 Chekan do Liên Xô chế tạo đã xuất hiện trong lễ đưa vào biên chế tàu khu trục mới của Triều Tiên.

Sự hiện diện của hai con tàu cạnh nhau tạo nên một hình ảnh tương phản rõ nét. Một bên là T-8, được hạ thủy từ năm 1936 và có lượng choán nước khoảng 500 tấn; bên kia là Kang Kon, tàu chiến mặt nước hiện đại có lượng choán nước khoảng 5.000 tấn, được trang bị hệ thống phóng thẳng đứng (VLS) và nhiều loại vũ khí dẫn đường.

Chiến hạm Liên Xô 90 năm tuổi sát cánh cùng tàu khu trục Triều Tiên- Ảnh 1.

Tàu quét mìn T-8 Chekan. (Ảnh: TW)

T-8 được hạ thủy ngày 27/12/1936 và đưa vào biên chế ngày 2/11/1938. Sau đó, con tàu được chuyển giao cho Triều Tiên vào tháng 12/1953. T-8 đã tồn tại gần 90 năm và nằm trong biên chế của Triều Tiên khoảng 73 năm.

Với chiều dài 62 m và lượng choán nước khoảng 490-535 tấn, T-8 chỉ dài bằng khoảng 43-44% so với Kang Kon và có lượng choán nước tương đương khoảng 9,8-13,4% con tàu mới.

T-8 từng được nhìn thấy bên cạnh tàu USS Pueblo của Mỹ vào những năm 2000. Trong khi đó, tàu chị em T-2 Tros đã không còn xuất hiện sau năm 1993. T-8 hiện được xem là chiếc tàu quét mìn Dự án 53 cuối cùng còn tồn tại trên thế giới.

Tuy nhiên, sự xuất hiện của T-8 tại một buổi lễ hải quân năm 2026 không đồng nghĩa con tàu vẫn là một đơn vị chiến đấu. Các danh mục kiểm kê hải quân cho biết, T-8 đã được loại biên vào năm 2005. Vì vậy, nhiều khả năng giá trị hiện nay của nó chủ yếu nằm ở phương diện lịch sử, cho thấy một phần di sản của hạm đội Triều Tiên vẫn được bảo tồn.

Từ tàu quét mìn Liên Xô đến tàu chiến đa nhiệm

T-8 thuộc phân lớp Dự án 53 trong dòng tàu quét mìn Fugas, cùng với các biến thể Dự án 3, 53-U và 58. Tổng cộng 44 tàu thuộc dòng này được đóng trong giai đoạn 1933-1946.

Tàu có kích thước khoảng 62 x 7,41 m, mớn nước 2,5 m và lượng choán nước từ 490 đến 535 tấn. Hai động cơ diesel công suất 1.400 mã lực mỗi chiếc truyền động cho hai trục, tạo tổng công suất 2.800 mã lực. Với cấu hình tiêu chuẩn, tàu có thể đạt tốc độ khoảng 17,5 hải lý/giờ.

Tầm hoạt động được công bố lên tới 7.200 hải lý ở tốc độ 12 hải lý/giờ. Thủy thủ đoàn khoảng 52-61 người, trong khi thân tàu được chia thành chín khoang kín nước. Kết cấu thân tàu sử dụng cả phương pháp tán đinh và hàn.

Thiết kế của T-8 tập trung trước hết vào nhiệm vụ rà phá thủy lôi, nhưng con tàu vẫn sở hữu lượng vũ khí đáng kể so với kích thước. Cấu hình cơ bản có một pháo 100 mm B-24, cùng pháo 37 mm và súng 12,7 mm. Tàu có thể mang tới 31 quả thủy lôi M1926.

Hệ thống rà phá thủy lôi ban đầu gồm ba thiết bị quét cơ khí, sau đó được bổ sung các hệ thống quét từ tính và âm thanh cùng ba cuộn khử từ. Khả năng chống tàu ngầm cũng được tăng cường với máy ném bom BMB-1, giá phóng bom chìm và trong một số cấu hình có thể mang tới 40 quả bom chìm.

Cấu hình T-8 được Triều Tiên sử dụng có lượng choán nước toàn tải khoảng 503 tấn, công suất 2.800 mã lực, tốc độ 17,8 hải lý/giờ và 60 tấn nhiên liệu diesel. Tầm hoạt động được nêu ở mức 3.000 hải lý khi chạy với tốc độ 13,9 hải lý/giờ.

Vũ khí gồm một pháo 100 mm B-24-BM, ba pháo 37 mm 70-K, bốn súng 12,7 mm, 20 bom chống tàu ngầm và 31 thủy lôi.

Ngoài nhiệm vụ chiến đấu, những tàu thuộc dòng này còn có thể đảm nhận vai trò vận tải. Một số cấu hình cho phép chúng chở tối đa 10 khẩu pháo chống tăng 45 mm hoặc khoảng 600 binh sĩ được trang bị vũ khí nhẹ.

Hai tàu Liên Xô đặt nền móng cho thiết kế tàu chiến Triều Tiên

Việc Liên Xô chuyển giao T-8 và T-2 cho Triều Tiên vào tháng 12/1953 có ý nghĩa đáng kể trong quá trình xây dựng lại lực lượng hải quân nước này.

Khi Chiến tranh Triều Tiên bắt đầu năm 1950, lực lượng tàu mặt nước của Triều Tiên tương đối nhỏ, chủ yếu gồm các tàu chiến ven biển như 3 tàu săn ngầm OD-200, 5 tàu phóng ngư lôi G-5, 2 tàu quét mìn YMS có nguồn gốc Mỹ, 1 tàu quét mìn cũ của Nhật Bản, 1 căn cứ nổi, 1 tàu vận tải và 6 tàu cao tốc.

Sự chênh lệch về lực lượng đã thể hiện rõ trong trận chiến ngoài khơi Chumonchin ngày 2/7/1950. Bốn tàu phóng ngư lôi, hai tàu pháo và 10 tàu đánh bắt đạn dược của Triều Tiên đối đầu với tàu tuần dương hạng nhẹ USS Juneau của Mỹ, tàu tuần dương hạng nhẹ HMS Jamaica và tàu chiến HMS Black Swan của Anh.

Cuộc giao tranh bắt đầu ở khoảng cách khoảng 11 km và sau đó thu hẹp còn 4 km. Ba trong số bốn tàu phóng ngư lôi cùng cả hai tàu pháo của Triều Tiên bị phá hủy.

Trong bối cảnh đó, hai tàu quét mìn do Liên Xô chuyển giao cung cấp cho Triều Tiên những thân tàu lớn hơn và có khả năng mang vũ khí mạnh hơn so với phần lớn lực lượng tàu ven biển khi đó.

Đáng chú ý, năm 1953 chỉ có hai tàu thuộc Dự án 53 được chuyển giao là T-8 và T-2, thay vì tám chiếc như một số thông tin trước đây từng đề cập.

Triều Tiên sau đó tiếp tục tận dụng thiết kế thân tàu này. Trong những năm 1960, nước này chế tạo năm tàu hộ vệ lớp Sariwon dựa trên hình dạng cơ bản của T-8 và T-2.

Sariwon có kích thước 61,5 x 7,5 x 2,4 m, gần như tương đồng với T-8 dài 62 m, rộng 7,41 m và có mớn nước 2,5 m. Tuy nhiên, lượng choán nước toàn tải tăng lên khoảng 650 tấn, cao hơn 21,5% so với T-8.

Tốc độ giảm từ khoảng 17,5 xuống 16 hải lý/giờ, trong khi tầm hoạt động được công bố là 2.700 hải lý ở tốc độ 16 hải lý/giờ.

Điểm khác biệt lớn nằm ở vũ khí. Sariwon chuyển trọng tâm từ nhiệm vụ rải và rà phá thủy lôi sang tác chiến pháo binh ven biển, với bốn pháo 57 mm, bốn pháo 37 mm và 16 pháo 14,5 mm. Tàu còn được trang bị bom chìm, hệ thống phóng rocket chống tàu ngầm RBU-1200, radar Type 351 và bệ phóng mồi nhử.

T-2 cũng được Triều Tiên nâng cấp

Chiếc T-2 còn cho thấy mức độ Triều Tiên có thể cải biến những thân tàu cũ được chuyển giao từ Liên Xô.

Trong đợt nâng cấp đầu những năm 1990, các pháo 100 mm và 37 mm nguyên bản bị loại bỏ. Thay vào đó, tàu được trang bị một pháo 85 mm ZIS-S-53 trên tháp pháo, hai bệ pháo đôi 37 mm V-11M và bốn bệ pháo đôi 14,5 mm, nâng tổng số nòng pháo lên 13.

T-2 cũng được bổ sung radar Type 351 và Don-2 cùng bốn bệ phóng mồi nhử sáu ống. Lượng choán nước tăng lên 440 tấn ở trạng thái tiêu chuẩn và 580 tấn khi đầy tải. Dung tích nhiên liệu đạt 96 tấn, thủy thủ đoàn khoảng 60 người và tầm hoạt động lên tới 4.100 hải lý ở tốc độ 14 hải lý/giờ. T-2 biến mất khỏi các ghi nhận sau năm 1993. Trong khi đó, T-8 vẫn tiếp tục tồn tại và được nhìn thấy trở lại vào năm 2026.

Sự khác biệt về số phận của 2 con tàu càng khiến T-8 trở thành một trường hợp đặc biệt trong lịch sử hải quân Triều Tiên.

Hạm đội Triều Tiên đã thay đổi như thế nào

Ngày nay, T-8 chỉ chiếm một phần rất nhỏ và không còn đáng kể về mặt tác chiến trong hạm đội Triều Tiên. Lực lượng này hiện có hàng trăm tàu và phương tiện hoạt động ven biển, nhưng số tàu chiến mặt nước cỡ lớn vẫn tương đối hạn chế.

Hạm đội được cho là bao gồm hai tàu khu trục do Triều Tiên chế tạo, 71 tàu ngầm, hơn 500 tàu đổ bộ, ba tàu hộ vệ, tám tàu corvette, khoảng 30 tàu rà phá thủy lôi, 30 tàu tên lửa, hơn 114 tàu phóng ngư lôi và hơn 187 tàu tuần tra.

Khoảng 470 tàu và phương tiện nhỏ được phân bổ cho bờ biển phía đông và khoảng 300 chiếc cho phía tây. Tỷ lệ này vào khoảng 61:39, một phần do địa hình bán đảo Triều Tiên khiến hai hạm đội khó thường xuyên điều chuyển tàu giữa hai vùng hoạt động.

Sự xuất hiện của các tàu khu trục mới có ý nghĩa đặc biệt. Tàu Choe Hyon đảm nhận vai trò tàu chiến chủ lực ở phía tây, trong khi Kang Kon được biên chế cho Hạm đội Biển Đông tại Wonsan.

Sự khác biệt giữa các tàu thế hệ cũ và tàu khu trục mới cũng thể hiện rõ ở khả năng mang vũ khí. Các tàu tên lửa đời đầu như Osa và Soju chỉ mang bốn tên lửa chống hạm SY-1 với tầm bắn khoảng 25 hải lý. Vì vậy, cần nhiều tàu nhỏ như vậy mới có thể tạo ra số lượng tên lửa tương đương với những gì một tàu lớn hiện đại có thể mang trong các hệ thống VLS.

Triều Tiên từng bước chuyển sang vũ khí dẫn đường trên tàu mặt nước. Năm 2014, một tàu chiến nước này được ghi nhận phóng tên lửa loại Kh-35. Sau đó, một tàu khu trục lớp Najin được trang bị tên lửa cùng loại, trong khi tàu hộ vệ Amnok đã phóng tên lửa hành trình tấn công mặt đất Hwasal-2 vào ngày 21/8/2023.

Riêng Amnok được trang bị tám tên lửa chống hạm Kumsong-3/KN-19, sáu tên lửa phòng không FN-6, một pháo 76 mm, hai bệ pháo AK-230, bốn ống phóng ngư lôi 533 mm và bốn bệ phóng rocket chống tàu ngầm RBU-1200.

Chỉ riêng hệ thống vũ khí dẫn đường của Amnok đã tạo ra năng lực tác chiến rất khác so với T-8 Chekan. Trong khi T-8 được thiết kế chủ yếu cho nhiệm vụ rà phá thủy lôi, rải thủy lôi và hộ tống, các tàu chiến thế hệ mới của Triều Tiên có thể đồng thời đảm nhiệm nhiệm vụ chống hạm, tấn công mặt đất, phòng không và tác chiến chống tàu ngầm.

Sự thay đổi về kích thước cũng phản ánh rõ quá trình này. T-8 chỉ có lượng choán nước 490-535 tấn; Sariwon đạt khoảng 650 tấn; các tàu hộ vệ mang tên lửa tiếp tục lớn hơn; còn Choe Hyon và Kang Kon đã đạt khoảng 4.000-5.000 tấn với chiều dài 140-144 m.

Kang Kon vì thế không chỉ là một tàu chiến mới trong hạm đội Triều Tiên. Khi đứng cạnh T-8 tại Wonsan, nó tạo thành một hình ảnh gần như thu nhỏ của quá trình phát triển hải quân nước này: từ chiếc tàu quét mìn có nguồn gốc thiết kế thời Chiến tranh thế giới thứ Hai với một pháo 100 mm và 31 quả thủy lôi, đến tàu khu trục cỡ lớn có hàng chục ống phóng thẳng đứng và khả năng mang nhiều loại tên lửa dẫn đường.

Chiến hạm Liên Xô 90 năm tuổi sát cánh cùng tàu khu trục Triều Tiên- Ảnh 2.Rò rỉ bản thiết kế 'siêu tăng vượt thời đại' của Liên Xô

SKĐS - Bản thiết kế gốc xe tăng chiến đấu chủ lực Object 195 của Liên Xô bị rò rỉ gần đây, đã mang đến cái nhìn hiếm hoi về một trong những chương trình tham vọng nhất của ngành công nghiệp quốc phòng Xô Viết.


(theo AR, TW)
Ý kiến của bạn