'Chìa khóa' chủ động đẩy lùi hai căn bệnh ung thư hàng đầu ở phụ nữ

Y tế
SKĐS - Số ca mắc mới và tử vong do ung thư vú, ung thư cổ tử cung tại Việt Nam tăng cao. Tiêm vắc xin là cách phòng ngừa.

Tiêm vắc xin giúp phòng ngừa trên 90% ung thư cổ tử cung

Ngày 20/10, Cục Bà mẹ và Trẻ em, Bộ Y tế tổ chức buổi sinh hoạt chuyên đề phòng chống ung thư vú và ung thư cổ tử cung cho cán bộ Cục Bà mẹ và Trẻ em. 2 chuyên gia nói chuyện chuyên đề là TS.BS Lê Thị Yến - Trưởng khoa Nội Quán sứ - Bệnh viện K và TS.BS Trần Thị Thu Hạnh - Phó trưởng khoa Phụ nội tiết, Bệnh viện Phụ sản Trung ương.

TS.BS Trần Thị Thu Hạnh - Phó trưởng khoa Phụ nội tiết, Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho biết, ung thư cổ tử cung tiếp tục là một gánh nặng y tế lớn trên toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Theo số liệu của Globocan, năm 2022, thế giới ghi nhận 662.000 ca mắc mới và 348.000 ca tử vong mỗi năm, trong đó khoảng 80% số ca tử vong tập trung ở các nước đang phát triển. 

 - Ảnh 1.

Cục Bà mẹ và Trẻ em, Bộ Y tế tổ chức buổi sinh hoạt chuyên đề phòng chống ung thư vú và ung thư cổ tử cung. Ảnh: Trần Lập

Tại Việt Nam cùng năm 2022, có 4.612 phụ nữ mắc mới và 2.571 trường hợp tử vong. Đến năm 2024, số liệu Globocan cho thấy toàn cầu có khoảng 604.000 đến 660.000 ca mắc mới cùng 280.000 đến 300.000 ca tử vong mỗi năm (vẫn chiếm 80% ở các nước đang phát triển). Riêng tại Việt Nam năm 2024, con số này đã tăng lên 8.274 phụ nữ mắc mới và 4.110 trường hợp tử vong.

TS.BS Trần Thị Thu Hạnh cho biết, nguyên nhân hàng đầu gây ung thư cổ tử cung là do nhiễm các týp vi rút HPV nguy cơ cao qua đường tình dục. Trong khoảng 200 týp HPV đã được phát hiện, có 30 týp lây truyền qua đường tình dục. Các týp HPV nguy cơ thấp như týp 6 và 11 gây sùi mào gà sinh dục. Trong khi đó, nhóm HPV nguy cơ cao là căn nguyên gây ra 96,1% các tổn thương tiền ung thư và ung thư cổ tử cung. 

 - Ảnh 2.

TS.BS Trần Thị Thu Hạnh - Phó trưởng khoa Phụ nội tiết, Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Ảnh: Trần Lập

Về diễn biến tự nhiên, có trên 90% trường hợp nhiễm HPV sẽ tự đào thải vi rút trong vòng 2 năm. Khoảng 10% các trường hợp vẫn còn nhiễm HPV sau 3 năm, và dưới 5% tiến triển thành tổn thương CIN2 hoặc nặng hơn trong 3 năm. 

Tổn thương xâm lấn cổ tử cung bắt đầu xuất hiện sau khoảng 13 đến 15 năm. Đối với các tổn thương CIN3, khoảng 20% sẽ tiến triển thành ung thư trong vòng 5 năm và 50% tiến triển thành ung thư trong vòng 30 năm. Ở cấp độ tế bào, từ biểu mô tuyến ban đầu, dưới tác động của pH thấp ở âm đạo và các yếu tố môi trường (vi rút), quá trình chuyển sản diễn ra. 

Quá trình này có thể là chuyển sản sinh lý để tạo vùng chuyển tiếp bình thường và phát triển thành biểu mô lát biệt hóa tốt; hoặc phát triển thành chuyển sản không điển hình tạo vùng chuyển tiếp bất thường. Nếu cơ thể đáp ứng miễn dịch đầy đủ thì tổn thương không tiến triển, ngược lại nếu đáp ứng miễn dịch không đầy đủ sẽ dẫn đến dị sản, tiến tới ung thư trong biểu mô và ung thư xâm lấn.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) hướng đến mục tiêu loại trừ ung thư cổ tử cung vào năm 2030 bằng cách giảm tỷ lệ mắc mới không vượt quá 4/100.000 phụ nữ. Chiến lược này được xây dựng dựa trên mô hình "90-70-90": đạt 90% trẻ em gái được tiêm đủ vắc xin HPV trước 15 tuổi; 70% phụ nữ được sàng lọc bằng xét nghiệm hiệu năng cao ở mốc 35 tuổi và 45 tuổi; và 90% bệnh nhân được phát hiện có tổn thương tiền ung thư hoặc ung thư xâm lấn được điều trị và xử trí.

Chiến lược kiểm soát bệnh bao gồm ba cấp độ dự phòng chính: Dự phòng cấp I: Tập trung vào tuyên truyền, giáo dục hành vi, quảng bá sử dụng bao cao su, vệ sinh tình dục, tư vấn tác hại thuốc lá, cắt bao quy đầu ở nam giới và tiêm vắc-xin phòng HPV. Độ tuổi tiêm chủng vắc-xin khuyến cáo là từ 9 đến 25 tuổi với các phác đồ tiêm 0–6, 0–1–6 hoặc 0–2–6 tháng.

Tại Việt Nam, vắc xin nhị giá (phòng HPV 16, 18) và tứ giá (phòng HPV 6, 11, 16, 18) được cấp phép từ năm 2008, phòng được 70% các trường hợp ung thư cổ tử cung. Vắc xin cửu giá (phòng 9 týp gồm 6, 11, 16, 18, 31, 33, 45, 52, 58) được cấp phép từ năm 2021, mở rộng đối tượng tiêm từ 9 đến 45 tuổi và giúp phòng ngừa trên 90% ung thư cổ tử cung. 

Gần 1/3 ung thư ở phụ nữ Việt Nam là ung thư vú

TS.BS Lê Thị Yến, Trưởng khoa Nội Quán sứ - Bệnh viện K cho biết, tại Việt Nam, ung thư vú đứng ở vị trí thứ 1 trong các loại bệnh ung thư, gây gánh nặng bệnh tật rất lớn. So với tuyến giáp, đại trực trạng, cổ tử cung... thì ung thư vú chiếm tỉ lệ rất cao, chiếm 28,1% các loại bệnh ung thư. Gần như 3 người thì có 1 người bị ung thư vú.

Việc đánh giá nguy cơ ung thư vú dựa trên các yếu tố cốt lõi bao gồm tiền sử cá nhân và gia đình mắc ung thư vú, buồng trứng, vòi tử cung hoặc phúc mạc; sự hiện diện của các đột biến gen di truyền (BRCA1/2, TP53); tiền sử từng xạ trị vùng ngực ở độ tuổi 10–30; mật độ mô vú đặc; kết quả sinh thiết có tổn thương nguy cơ cao như tăng sản không điển hình; các yếu tố nội tiết - sinh sản (tuổi có kinh, tuổi sinh con đầu, số lần mang thai, tuổi mãn kinh); và nguồn gốc dân tộc có tỷ lệ mang đột biến gen cao. 

 - Ảnh 3.

TS.BS Lê Thị Yến, Trưởng khoa Nội Quán sứ - Bệnh viện K. Ảnh: Trần Lập

Dựa trên việc phân loại này, bác sĩ sẽ tư vấn chiến lược phù hợp: người thuộc nhóm nguy cơ trung bình được hướng dẫn tự theo dõi và chụp nhũ ảnh định kỳ theo độ tuổi; trong khi người thuộc nhóm nguy cơ cao được tư vấn tầm soát sớm hơn, rút ngắn chu kỳ khám, kết hợp chụp MRI vú, xét nghiệm di truyền và cân nhắc các biện pháp can thiệp dự phòng chủ động.

Nhóm nguy cơ trung bình là người không có yếu tố nguy cơ lâm sàng, chiếm khoảng 12.4%. Nhóm trung bình cao là người có mẹ, chị em gái hoặc con gái mắc ung thư vú, không có hội chứng di truyền. Nhóm nguy cơ cao nhất người mang gen BRCA hoặc gen nhạy cảm khác, xạ trị ngực trước 30 tuổi, tăng sản không điển hình.

Đối với những trường hợp mang gen đột biến BRCA1/2, các khuyến cáo hiện hành của ESMO đề nghị bắt đầu quá trình sàng lọc ung thư vú từ 5 năm trước thời điểm người thân trong gia đình được chẩn đoán mắc bệnh ở độ tuổi sớm nhất, hoặc khởi đầu từ năm 30 tuổi. 

Phương pháp sàng lọc ung thứ vú gồm:

Chụp nhũ ảnh (Mammography - Mamo): Là phương pháp sàng lọc nền tảng và đầu tay trên diện rộng cho cộng đồng. Siêu âm vú hay xét nghiệm chỉ thị u không phải là phương pháp sàng lọc độc lập được khuyến cáo đầu tay. Chụp nhũ ảnh định kỳ 1 năm/lần, đặc biệt chú trọng nhóm tuổi từ 40 đến 49 tuổi. Phụ nữ dưới 40 tuổi không thuộc nhóm nguy cơ cao không được khuyến cáo tầm soát thường quy bằng Mamo.

Chụp cộng hưởng từ (MRI tuyến vú): Áp dụng cho nhóm nguy cơ rất cao (mang gen đột biến BRCA1/2, tiền sử xạ trị vùng ngực) hoặc người có mô tuyến vú quá đặc. MRI có độ nhạy cao hơn nhưng chi phí đắt và thời gian chụp kéo dài (khoảng 1 giờ) so với chụp Mamo (vài phút).

BS Yến cho biết, phụ nữ đã đặt túi ngực thẩm mỹ vẫn có chỉ định và hoàn toàn có thể chụp nhũ ảnh an toàn. Kỹ thuật viên sẽ thao tác đẩy túi ngực ra sau để ép và chụp phần mô tuyến vú mà không làm vỡ túi ngực.

Nam giới vẫn có nguy cơ mắc ung thư vú (chiếm khoảng 1% tổng số ca ung thư vú). Nam giới mang đột biến gen BRCA1/2 có nguy cơ cao hơn và vẫn có chỉ định chụp Mamo sàng lọc khi có bất thường.

Biện pháp can thiệp điều trị ung thư vũ là cắt tuyến vú 2 bên dự phòng giúp giảm nguy cơ đến 90% mắc ung thư vú, không chỉ với những người mang BRCA, mà cả với những phụ nữ nguy cơ cao khác như TP53, PTEN, PALB… Trong trường hợp không cắt tuyến vú dự phòng, uống thuốc nội tiết cũng có có thể giúp giảm 30-60% nguy cơ mắc ung thư vú. TAM 20mg/ ngày hoặc AI hàng ngày trong 5 năm.

BS Yến nhận định, ung thư vú có thể sàng lọc và phát hiện sớm, hiệu quả điều trị cũng cao hơn rất nhiều so với giai đoạn muộn.

 - Ảnh 4.Phát hiện sớm, tỉ lệ chữa khỏi ung thư vú có thể lên đến 90%

SKĐS - Mỗi năm, Việt Nam ghi nhận khoảng 25.711 ca ung thư vú mới, chiếm 28,1% tổng số ca ung thư ở nữ giới.




Ý kiến của bạn