Nghị định này chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 15/7/2026, áp dụng đối với các đối tượng tuyển sinh từ năm 2025 trở đi và thời điểm bắt đầu tính cấp học bổng là từ ngày 1/9/2026. Nghị định được ban hành nhằm triển khai giải pháp hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, công nghệ cao và các ngành có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Chính sách ưu đãi này áp dụng rộng rãi đối với sinh viên đại học, học viên cao học và nghiên cứu sinh theo học các chương trình đào tạo thuộc nhóm ngành khoa học cơ bản, kĩ thuật then chốt và công nghệ chiến lược tại các cơ sở giáo dục đại học theo quy định của pháp luật. Các chương trình đào tạo được hưởng lợi bao gồm chương trình đào tạo tài năng, chương trình đào tạo về vi mạch bán dẫn, cùng các chương trình thuộc nhóm ngành khoa học cơ bản và kĩ thuật mũi nhọn.
Danh mục các ngành được thụ hưởng tập trung vào nhiều lĩnh vực quan trọng như Toán học, Sinh học, Thống kê, Máy tính và công nghệ thông tin, kĩ thuật điện, điện tử và viễn thông, vật lí kĩ thuật, kĩ thuật vật liệu, kĩ thuật mỏ, xây dựng và nhiều lĩnh vực khoa học, kĩ thuật khác phục vụ phát triển công nghệ và công nghiệp chiến lược của quốc gia.
Để được xét hưởng học bổng, người học phải đáp ứng các tiêu chuẩn sàng lọc chất lượng đầu vào và duy trì phong độ học tập nghiêm ngặt. Đối với người học trúng tuyển theo phương thức xét kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông, một trong các điều kiện tiên quyết là phải có điểm trung bình cộng 3 môn theo tổ hợp xét tuyển đạt từ 22,50 điểm trở lên, không bao gồm điểm ưu tiên và điểm cộng, đồng thời phải thuộc nhóm 30% thí sinh có điểm trúng tuyển cao nhất của ngành hoặc chương trình đào tạo đó.
Trong quá trình học tập tại trường, người học phải liên tục đáp ứng các yêu cầu về kết quả học tập, số tín chỉ tích lũy theo quy định và không bị kỉ luật từ mức khiển trách trở lên để tiếp tục được duy trì quyền lợi.
Một trong những điểm đột phá và đáng chú ý nhất của Nghị định lần này là việc xét duyệt và chi trả học bổng được thực hiện hoàn toàn trên cơ sở dữ liệu tuyển sinh, kết quả học tập và rèn luyện của người học do cơ sở đào tạo quản lí. Quy trình này hoàn toàn không yêu cầu người học phải nộp hồ sơ và không làm phát sinh bất kỳ thủ tục hành chính nào, giúp tối giản hóa áp lực giấy tờ cho người học.
Về nguồn lực thực hiện, kinh phí tài trợ được bảo đảm từ ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về phân cấp quản lí ngân sách nhà nước và các nguồn kinh phí hợp pháp khác. Nhà nước đồng thời khuyến khích các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia tài trợ, cấp học bổng cho người học trên nguyên tắc tự nguyện, công khai, minh bạch. Ngược lại, để bảo đảm tính trách nhiệm, Nghị định quy định rõ người học phải hoàn trả toàn bộ số tiền học bổng đã nhận trong trường hợp bị buộc thôi học, tự ý bỏ học hoặc sử dụng học bổng sai mục đích.
Nghị định số 179/2026/NĐ-CP được ban hành là bước cụ thể hóa chủ trương phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ trọng điểm, tạo điều kiện thu hút người học vào các ngành khoa học cơ bản, công nghệ chiến lược phục vụ phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Về định mức chi trả, sinh viên đại học được hưởng học bổng 10 tháng trong một năm học, học viên cao học và nghiên cứu sinh được hưởng học bổng chi trả đều đặn 12 tháng trong một năm học. Mức kinh phí hỗ trợ và thời gian thụ hưởng tối đa được quy định chi tiết cho từng bậc học như sau:
| Bậc đào tạo / Chương trình cụ thể | Mức học bổng (Đồng/tháng) | Thời gian hưởng tối đa |
| Sinh viên đại học (Tùy nhóm ngành và chương trình) | 3.700.000 – 5.000.000 | 10 tháng/năm (Tối đa 5 năm) |
| Học viên trình độ thạc sĩ (Cao học) | 5.500.000 – 7.400.000 | 12 tháng/năm (Tối đa 2 năm) |
| Nghiên cứu sinh trình độ tiến sĩ (Chương trình tài năng, vi mạch bán dẫn, khoa học cơ bản) | 8.400.000 | 12 tháng/năm (Tối đa 3 năm) |
