Chân dung một người “về với Thủ đô”

Suckhoedoisong.vn - Ngày 8/11/2011 đáng ra là một ngày bình thường của GS. Phạm Song. Như những ngày khác, ông dậy sớm, tập thể dục, ăn sáng do người vợ của mình nấu, tập hợp tài liệu, in bài phát biểu trên máy tính rồi đến một cuộc hội thảo về y học mà ông chủ trì với cương vị Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam.

Thế nhưng ngay khi đang đọc bài phát biểu, ông bị đột quị để rồi 12g10 hôm đó, ông đã vĩnh viễn về thế giới bên kia không một lời trăng trối.

Ông mất khi chỉ còn đúng 15 ngày nữa là vừa tròn tuổi 80 (23/11/1931 -  8/11/2011) và ngay tại bệnh viện mà 57 năm trước, ông đã cùng những người đồng đội của mình tiếp quản Thủ đô 1954.

Sự ra đi của ông là tổn thất to lớn cho gia đình, những người thân và đặc biệt là nền y học Việt Nam. Một đồng nghiệp của ông đã xúc động viết: “Giáo sư Phạm Song đã ra đi ngay tại một hội nghị về y tế, ông đã ngã xuống như một chiến sĩ ngoài mặt trận - mặt trận chiến đấu vì sức khỏe toàn dân”.

Giáo sư, Viện sĩ, Thầy thuốc Nhân dân Phạm Song.

Kỷ niệm đầu tiên với vị Giáo sư đáng kính

Lần đầu tiên tôi gặp cố Giáo sư, Viện sĩ, Thầy thuốc Nhân dân Phạm Song vào khoảng đầu năm 1999. Khi đó, tôi mới từ Thái Bình lên công tác tại báo Nhà báo & Công luận. Còn ông cũng đã thôi làm Bộ trưởng Bộ Y tế về phụ trách Chương trình nước sạch Quốc gia.

Thật tình, cho đến tận bây giờ, tôi không nhớ được bất cứ một nội dung nhỏ nào của bài phỏng vấn. Cái còn lại của cuộc gặp gỡ là ấn tượng của tôi đối với người trả lời phỏng vấn - một con người hiền hậu, cẩn trọng, chu đáo và đặc biệt là sự nhiệt thành với công việc. Buổi đó, ông đã nói rất dài và rất say sưa về những bức xúc của hiện tại cũng như những ý tưởng đang ấp ủ.

Sau này, khi về công tác tại báo Gia đình & Xã hội, được gặp ông luôn, tôi vẫn không quên ấn tượng về một nhà quản lý, một nhà khoa học am tường và say mê công việc. Vì vậy, ở cùng nhà, đi chung cầu thang, dù ông không còn nhớ một chút gì về cậu phóng viên đã phỏng vấn mình nhưng gặp ông lần nào tôi cũng chào rất trân trọng, mặc dù không ít lần, ông chẳng để ý. Có lẽ ông còn mải suy nghĩ nhiều việc. Có lần tôi chào, ông giật mình ngỡ ngàng một lát rồi mới đáp lại và lại rảo bước.

Nhân cách một trí thức

Song, tình cảm gần gũi của ông dành cho tôi chỉ đến sau khi tôi có bài phỏng vấn ông về giá thuốc.

Khi đó, Công ty Phân phối dược phẩm Juli Pharma độc quyền thao túng thị trường. Giá thuốc, đặc biệt là thuốc biệt dược tăng giá một cách chóng mặt. Dư luận tập trung vào Bộ Y tế. Các đại biểu đang họp tại nghị trường Quốc hội rất bức xúc. Mọi nguyên nhân đều đổ vào lãnh đạo Bộ Y tế - bà Trần Thị Trung Chiến - Bộ trưởng. Tôi đến gặp ông để tìm hiểu tình hình.

Và điều bất ngờ với tôi, ông đã nhận một phần trách nhiệm của mình, mặc dù ông đã không còn giữ trọng trách Bộ trưởng Bộ Y tế nhiều năm. “Đó là trách nhiệm của nhiều đời Bộ trưởng, trong đó có tôi”. Lời “nhận tội” đó không chỉ giúp dư luận có cái nhìn đúng về trách nhiệm, tìm ra nguyên nhân sâu xa của sự việc mà hơn cả, đó là nhân cách của một trí thức, một quan chức giàu lòng tự trọng khi dũng cảm nhận lỗi về mình mà không hề thoái thác hay né tránh.

Khi bài báo ra đời, có người bảo tôi: “Ông ấy nghỉ rồi, nhận có chết ai?”. Điều đó có thể đúng nhưng thực tế, không ít người khi đã không còn quyền chức vẫn chưa một lần dám nhận trách nhiệm về những sai lầm của mình dù nhỏ nhất, thậm chí không loại trừ việc tranh công hay đổ tội. Và cũng từ đó, tôi hay sang hầu chuyện ông. Ông cũng tâm sự với tôi về cuộc đời, về sự trăn trở, ưu tư của một thầy thuốc, một trí thức cách mạng.

Sau này, khi biết tôi là nhà thơ, ông càng gần gũi, quý mến còn tôi thì không khỏi khâm phục bởi sự uyên bác trong thẩm định văn chương nơi ông. Ông có thể đọc làu làu cả trăm câu Kiều, bình giảng về một câu trong Bình Ngô đại cáo hay nói vanh vách về những tác phẩm văn học Nga, Anh, Pháp…

Chiến sĩ quân y ở chiến trường Điện Biên Phủ

Phạm Song thường nói ông là sản phẩm của cách mạng. Ông sinh năm 1931 tại xã Sơn Long, Hương Sơn, Hà Tĩnh trong một gia đình công chức. Năm 1948, như nhiều sinh viên yêu nước thời đó, Phạm Song tham gia hoạt động trong phong trào sinh viên ở Trường Huỳnh Thúc Kháng. Năm 1950, mới 19 tuổi, Phạm Song được kết nạp vào Đảng và năm sau, ông được cử lên chiến khu Việt Bắc (Chiêm Hoá, Tuyên Quang) để theo học nghề y.

Tiếng là đi học nhưng đến nơi, thầy Di (GS. Hồ Đắc Di) dẫn cả bọn ra bờ suối chỉ một đám đất trống, bảo: “Trường đây, các anh tự xây lấy”. Thế là tất cả xắn tay vào làm nhà ở, phòng ăn, phòng học, nhà vệ sinh... và cả giáo cụ trực quan. Học được một năm thì tin tức từ các chiến trường dội về khiến cả trường rạo rực. Thương bệnh binh ngày một nhiều nên vừa thiếu thuốc men, vừa thiếu người điều trị.

Tháng 8/1953, đang học dở đại học, Phạm Song tình nguyện về làm y sĩ tại công trường mở đường Ao Lâu - Điện Biên. Một thời gian ngắn sau, ông được cử làm bệnh xá trưởng của công trường gần 3.000 người này. Đây cũng là thời gian vô cùng cực khổ và ác liệt. Suốt ngày đêm, máy bay địch quần thảo, ném bom napan và bắn đạn pháo.

Tuy nhiên, những thương vong, mất mát nhiều nhất lại không từ phía bom đạn quân thù mà lại do ốm đau, bệnh tật, nhất là sốt rét. Đã không ít lần Phạm Song phải chứng kiến sự ra đi đầy thương cảm của những người đồng chí vì căn bệnh sốt rừng. Nỗi ám ảnh này lớn đến mức sau khi trở thành giáo sư nổi tiếng, một nhà quản lý đầu ngành thì việc ông đeo đuổi suốt cuộc đời là tìm ra loại thuốc chữa sốt rét.

Những công trình khoa học

Chiết xuất artemisinin từ cây thanh hao hoa vàng làm thuốc điều trị sốt rét.

Dịch tễ học viêm gan virut (nghiệm thu xuất sắc quốc gia) công trình khoa học cấp Nhà nước.

Chủ nhiệm Bách khoa thư bệnh học 4 tập (cùng với sự cộng tác của 110 GS, PGS, TS).

Và những phần thưởng

Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất.

Huy chương do Hiệp hội Hàn lâm y tế công cộng Thái Bình Dương tặng.

Huy chương Chống thuốc lá do Tổ chức Y tế Thế giới tặng.

Giải thưởng khoa học Hồ Chí Minh 1995 – 2000 (cùng với một số đơn vị tập thể do ông chủ trì).

 

Công trình chiết xuất artemisinin từ cây thanh hao hoa vàng (loại cây mọc phổ biến ở vùng núi phía Bắc nước ta) làm thuốc điều trị sốt rét do ông chủ trì đã đạt Giải thưởng Hồ Chí Minh giai đoạn 1995 - 2000 đã được ấp ủ, thai nghén từ những năm này.

Người về tiếp quản Thủ đô

Sau Chiến dịch Điên Biên Phủ, tháng 9/1954, từ Tuyên Quang, Phạm Song được điều về tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Chàng trai miền Trung thân thuộc với Vinh, với cố đô Huế nhưng chưa một lần đến Hà Nội đã vô cùng sửng sốt vì Hà Nội quá nhỏ và thưa dân (khi đó Hà Nội chỉ có khoảng 40 vạn người) so với tưởng tượng của mình.

Kỷ niệm ngày về tiếp quản Thủ đô với Phạm Song cũng rất giản dị. Đêm đầu tiên nhận bàn giao ở Bệnh viện Đồn Thuỷ (Bệnh viện Hữu Nghị bây giờ), Phạm Song phải trải nilon xuống sàn nhà để ngủ. Năm đó, trời rất rét, mấy anh em co quắp lấy nhau chống chọi với những cơn gió lạnh, vừa mừng vừa buồn cười vì không ngờ đêm đầu tiên ngủ ở Thủ đô Hà Nội lại khổ thế. Điều định mệnh là sau này, khi làm Trưởng khoa Nhiễm trùng, Phạm Song lại ở chính căn phòng ấy.

Song, kỉ niệm ấn tượng nhất đối với Phạm Song lại là vụ đi ăn phở “chui”. Theo 10 điều quy định đối với cán bộ tiếp quản khi đó là không được tiếp xúc với dân, không được nhận quà của dân, không được về nhà (nếu gia đình ở Hà Nội), không được ăn hàng quán... Thế nhưng đến hôm cuối cùng, không chịu được sự quyến rũ của hương vị phở, Phạm Song đã cùng với một người bạn (nay là Giáo sư tâm thần Nguyễn Việt) đánh liều bỏ áo đại cán, bỏ phù hiệu để vào quán phở Tư Lùn. Đó là bát phở nhớ đời, nhiều năm sau ông vẫn nhớ lại cái mùi vị ngọt ngào, quyến rũ của nó.

Không ham danh nhưng cần chức

Phạm Song tiêu biểu cho một trí thức lớn lên trong kháng chiến và trưởng thành từ cơ sở. Vốn là bệnh xá trưởng công trường, ông lên Trưởng khoa Nhiễm trùng, phó Giám đốc rồi Giám đốc Bệnh viện Hữu Nghị, Thứ trưởng rồi Bộ trưởng Bộ Y tế...

Nhưng điều đáng khâm phục là dầu bị “cuốn” vào chốn chính trường, trên con đường khoa học, Phạm Song cũng từng bước trưởng thành. Từ một sinh viên đào tạo trong rừng, sau nhiều năm miệt mài học tập, cống hiến, ông đã trở thành một Giáo sư, Viện sĩ đầu ngành, được đồng nghiệp trong nước và bạn bè thế giới trân trọng, quý mến.

Tuy nhiên với ông, công danh, chức tước chỉ là “ngoại vật hi thân” (cái ở ngoài bản thân) như cổ nhân đã nói. Tất cả rồi cũng sẽ qua đi, hơn cả mọi chức tước, ông thấy mình hạnh phúc nhất với danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân.

Có thể nói, Phạm Song là một khối “mâu thuẫn”. Với công danh chức tước, Phạm Song cũng có cách ứng xử rất “bất nhất”. Ông không phải là người ham hố công danh nhưng lại ham mê công việc. Thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Y tế, ông về Ban chỉ đạo chương trình Nước sạch quốc gia rồi chuyển sang làm Chủ tịch Hội Dân số - Kế hoạch hoá gia đình, một tổ chức phi Chính phủ hoạt động nhờ nguồn vận động và mang tính đoàn thể quần chúng. Thế nhưng ở đâu, làm gì ông cũng nổi đình nổi đám.

Không ham công danh nhưng lại cần chức tước chỉ vì ông hiểu một điều rất sâu sắc là ở ta, không có quyền lực thì sẽ không thực thi được những ý tưởng của mình. Công trình chiết xuất artemisinin ấp ủ từ những năm ở Việt Bắc, bắt tay nghiên cứu từ 1954 nhưng phải đến năm 1988, tức 34 năm sau khi là Bộ trưởng, ý tưởng của ông mới thực hiện được.

Điều khiến tôi ngạc nhiên là Giải Nobel Y học 2015 trao cho công trình nghiên cứu về artemisinin nhưng tác giả lại là một bác sĩ người Trung Quốc, bà Đồ U U (Youyou Tu). Theo tài liệu, bà Đồ U U được Mao Trạch Đông giao cho nghiên cứu công trình này từ năm 1969?

“Sòng phẳng mà nói, nếu tôi không là Bộ trưởng thì cũng không có được công trình này. Thứ trưởng cũng khó - Ông tâm sự - Thế nhưng khi có quyền chức thì lại bận nhiều việc, họp hành nên cái tâm nghề nghiệp nó vơi đi, ít đi, mất đi... Rồi không biết từ lúc nào, cái tính gia trưởng, tham lam và độc đoán nó thâm nhiễm vào cái anh có quyền lực. Thói xấu mà người làm lãnh đạo cần tránh là tham lam và gia trưởng. Vừa muốn mình được hưởng nhiều nhất lại muốn lời nói của mình có giá trị ngàn vàng, phải khắc vào bia đá. Thế là người tài, người có năng lực, người có thực tâm dần bị đẩy ra xa người có quyền lực. Buồn thế...”.

Trọng thực việc, ghét hư danh

Với chức danh, quan niệm của Viện sĩ Phạm Song cũng rất sòng phẳng. Hơn một lần ông tâm sự với tôi: “Điều lo ngại nhất đối với giới khoa học nước nhà là tính thiếu hợp tác và không tôn trọng người có tài hơn mình. Nếu thiếu tính hợp tác, khó có những công trình khoa học tầm cỡ thì việc không tôn trọng người tài sẽ khiến họ không có đất dụng võ. Đây là sự lãng phí vô giá”.

Đối với lực lượng kế cận, ông luôn tạo điều kiện đào tạo, nâng đỡ bởi ông hiểu đó phải là người có uy tín khoa học không chỉ trong nước mà cả quốc tế, lại phải thông thạo ngoại ngữ để giao tiếp, thuyết phục đối tác và thu hút đầu tư. Lại phải ít nhiều có tính “Dĩ công vi thượng” (Coi việc công làm trọng - Lời Bác Hồ dặn Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi Người ốm nặng). “Người không có uy tín do tự bản thân thì không làm được việc mà kẻ tham lam thì làm hỏng sự nghiệp”, ông thường nói thế.

Một số người khi có quyền chức thì hách dịch, trịch thượng đến khi “ngồi xuống đất” vẫn không bỏ được cái thói quen này. Tôi không biết khi làm Bộ trưởng, tính khí ông thế nào nhưng từ dạo quen biết ông, tôi luôn thấy ông là người ôn hòa, lịch thiệp. Có lần phỏng vấn ông, tôi đã ghi sai một số chi tiết rất ngớ ngẩn. Tưởng ông giận nhưng khi gặp, ông cầm tay tôi, bảo: “Mình quý cái tâm của cậu còn việc ấy, nó cũng qua đi thôi. Đừng nên nghĩ ngợi nhiều!”.

Phạm Song là thế. Ông vừa có sự thâm trầm, sâu sắc của người xứ Bắc, vừa có sự mềm mỏng, dịu nhẹ Cố đô lại vừa cần cù, ham học của người xứ Nghệ. Ông thông thạo 2 ngoại ngữ và vẫn thường tự tay soạn thảo giấy tờ, văn bản trên máy tính.

 

Nhà thơ Bùi Hoàng Tám

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Chân dung một người “về với Thủ đô”

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT