Chân dung của một thời (I)

Văn hóa – Giải trí
Miền Bắc Việt Nam từ 1954 - 1965, giữa hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, được hưởng một giai đoạn hòa bình (tương đối), đó là một thời đầy thử thách: nghèo nàn, thiếu thốn mà hào hứng, đậm tình người, giàu lòng yêu nước.

Miền Bắc Việt Nam từ 1954 - 1965, giữa hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, được hưởng một giai đoạn hòa bình (tương đối), đó là một thời đầy thử thách: nghèo nàn, thiếu thốn mà hào hứng, đậm tình người, giàu lòng yêu nước. Tôi xin trích dịch một vài chân dung tôi viết về “con người bình thường” nhưng lại là yếu tố cơ bản làm nên chiến thắng khi vận nước đang trải qua một thử thách mới, để ta đối chiếu với “con người bình thường” trong xã hội Việt Nam hiện tại.        

Anh thợ máy Liệu

(Tại bến Cảng Hải Phòng, một sớm hè năm 1961).

Không khí hầm máy chiếc tàu nhỏ ngột ngạt khiến tôi ho luôn. Anh Liệu cười, bảo tôi: “Quả là nhà báo không quen ngửi mùi dầu ma-dút! Xin mời lên boong nói chuyện!”. Được lời như cởi tấm lòng, tôi theo gót anh, lên thang, cùng ngồi ở phía đuôi chiếc tàu đánh cá VĐ13.

- Anh làm thợ máy từ bao lâu nhỉ? Tôi hỏi.

- Thấm thoắt đã 5 năm - anh đáp với giọng xứ Quảng. Tôi thuộc loại   thợ máy đầu tiên được đào tạo từ khi ta tiếp quản cảng Hải Phòng, đào tạo riêng cho tàu đánh cá đi biển.

- Thế trước đó?

- Tôi là bộ đội kháng chiến trong Nam.

Rồi anh tâm sự với tôi về cuộc đời anh. Tuổi ngoài 30, anh sinh ở Quảng Nam. Năm 20 tuổi, anh xung phong vào Giải phóng quân. Tiểu đoàn của anh có nhiệm vụ chở lương thực và vũ khí từ miền Trung vào mặt trận Nam Bộ. Chở đường thủy dọc bờ biển bị hải quân Pháp kiểm tra chặt chẽ. Nhiều lần đội thuyền của anh bị mai phục, nhờ may mắn anh thoát chết. Có lần thuyền đắm, anh lênh đênh trên biển hai ngày đêm mới dạt vào được bãi cát. Anh nhún vai bảo: “Anh thấy đấy! Tôi vẫn còn sống để được tiếp nhà báo. Trong những giờ phút gay go, tôi vẫn ước mơ đến một ngày được ra khơi với tàu đánh cá”.

Bỗng nét mặt anh đanh lại:

- Tôi ghét chiến tranh lắm! Khi nhìn xa thấy tàu chiến Pháp, tôi nghĩ: bọn nó vừa dã man, vừa ngu. Thiếu gì cách dùng tàu, sao không dùng để đánh cá? Tôi nghĩ sẽ có ngày ta có tàu đánh cá to và khỏe như tàu chiến địch và tôi sẽ là thợ máy.

Mừng anh đã phần nào thực hiện được ước mơ.

- Anh có đi học bổ túc không?

- Có, nhưng không đều được vì đa số thời gian lênh đênh trên biển. May năm nay mở lớp bổ túc riêng cho người đi biển. Lần lượt, được học hai tháng trên bờ, vẫn lĩnh cả tháng lương!

- Anh còn may hơn người khác! - Tôi cười khích lệ.

- May thì cũng có nhưng… - Anh sầm mặt đáp - Dân miền Nam chúng tôi…

Tôi lặng người đi. Đã 7 năm, anh Liệu không có tin nhà. Anh gợi lên những kỷ niệm thân thương về người bà đã nuôi mình, về người vợ trẻ vọng phu…

- Tôi muốn làm và học thật tốt để khi thống nhất, về quê làm nghề cá có hiệu quả hơn.             

- Anh không muốn học thành kỹ sư à?

- Muốn lắm chứ!

Nhưng hiện tôi đang cố tốt nghiệp cấp III phổ thông.

Cô nuôi dạy trẻ

(Hà Nội - 1962).

Hoàng Oanh, cô giáo có cái tên đẹp như người. Tôi đến tìm cô ở trường mầm non khi cô đang bận tíu tít. Để tiếp tôi, cô giao lại việc điều khiển cho hơn chục học viên tập sự dạy trẻ dưới sự chỉ bảo của cô.

Tôi hỏi: “Cô thật giỏi nghề! Cô làm cô nuôi dạy trẻ được bao lâu rồi?”

- Mới 3 năm thôi, nhà báo ạ!- Cô cười hiền hậu - Trước đây em đi dạy không thù lao cho lớp bình dân học vụ buổi tối, góp phần chống nạn mù chữ ở khu phố.

- Sao cô chọn nghề cô nuôi…?

- Thật ra em có chọn nghề này đâu! Việc nó đến thì nó đến. Em theo học một lớp đào tạo cô nuôi ba tháng do Sở Giáo dục Hà Nội mở. Mỗi năm lại theo lớp bổ túc hai tháng. Chúng em được học về tâm lý trẻ em, hát, múa, vẽ, thủ công, các trò chơi…

Hoàng Oanh cho biết công việc thường xuyên của cô. Cô phụ trách một lớp 32 em đều là con công nhân viên. Giáo dục dựa vào “5 yêu” và “2 tốt”. Năm yêu là: yêu nước, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu kỷ luật. Hai tốt là: thật thà, dũng cảm. Dĩ nhiên còn nhiều điều khác, như đầu óc nhận xét, ý thức cái đẹp, tinh thần tập thể…

Về trường mầm non, Hoàng Oanh cho biết: trường có 400 học sinh, có các lớp cho các em 3 - 4 - 5 tuổi. Có lớp cho trẻ 6 tuổi bắt đầu tập đọc, tập viết. Mỗi cô phụ trách một lớp độ 30 em và theo dõi các em ba năm liền. Các em đều ở lại ăn trưa ở trường. Đã có ký túc xá…

- Hỏi thật cô nhé!, cô có thấy tương lai trong nghề cô nuôi dạy trẻ không?

Hoàng Oanh ngần ngừ một chút, rồi đáp:

Có chứ! Chả lẽ em lại nhắc lại với nhà báo khẩu hiệu: “Ở nước ta, người lao động nào chả có tương lai!”.

  Hữu Ngọc


Ý kiến của bạn