(SKDS) – Thiếu kinh phí, thiếu nhân lực, thiếu trang thiết bị... là một thực tế từ nhiều năm nay tại các tuyến y tế cơ sở, đặc biệt trong lĩnh vực chăm sóc sản phụ khoa và nhi khoa.
2 bác sĩ điều trị cho 50 bệnh nhân
Những năm gần đây, nhiều bệnh viện tuyến huyện cũng trở nên quá tải. Đối với Bệnh viện đa khoa (BVĐK) Như Thanh - Thanh Hóa, hiện tượng này đã là “chuyện thường ngày ở huyện”. BS. Hoàng Thị Huệ - Trưởng khoa Sản bệnh viện cho biết: Khoa sản của bệnh viện luôn trong tình trạng quá tải. Với 24 giường thực kê mà số bệnh nhân trung bình tại khoa là 45, nhiều khi lên đến 50 nên việc nằm ghép là không thể tránh khỏi.
Số lượng bệnh nhân đông, cả khoa chỉ có 2 bác sĩ, do vậy, công việc hết sức bận rộn, thời gian làm việc kéo dài không kể giờ giấc. Ngày làm việc, đêm trực. Hết ngày này đến ngày kia như thế. Vất vả là vậy, nhưng khi một em bé ra đời, bà mẹ khỏe mạnh là mọi mệt mỏi dường như tan biến. Lúc đó, các chị lại hòa chung cùng niềm vui với gia đình sản phụ.
BVĐK khu vực Tây Bắc tỉnh Nghệ An cũng trong tình trạng tương tự. Theo BS. Dương Văn Trường - Trưởng khoa Sản: “Công suất giường bệnh tại khoa trong những năm gần đây khoảng 130-140%. Vì là bệnh viện khu vực nên khoa được ưu tiên phân công 5 bác sĩ. Đây là đội ngũ tương đối dồi dào so với các bệnh viện khác trong vùng nhưng xét trên công việc thực tế, các bác sĩ ở đây cũng đã làm việc hết tốc lực”.
Nói về nguồn nhân lực chuyên khoa sản, nhi, BS. Tăng Việt Hà – Giám đốc BVĐK khu vực Tây Bắc chia sẻ: “Hiện nay, bệnh viện rất thiếu bác sĩ sản, nhi. Nhưng vì chế độ chính sách, vì tính chất công việc có tính nhạy cảm cao, sức ép công việc của thầy thuốc lớn, mọi tai biến luôn rình rập bệnh nhân. Hơn nữa, chế độ tiền lương, thù lao của các bệnh viện tư nhân cao hơn nhiều nên khoa sản, nhi bệnh viện công không có sức hút đối với các bác sĩ trẻ mới ra trường”.
Chăm sóc trẻ sinh non tại BVĐK khu vực Tây Bắc. |
2 bàn đẻ cho một khoa sản bệnh viện khu vực
BVĐK khu vực Tây Bắc tỉnh Nghệ An với quy mô 250 giường bệnh. BS. Dương Văn Trường cho biết: “Trước đây, bệnh viện chỉ phục vụ cho bệnh nhân thuộc huyện Nghĩa Đàn nhưng đến nay phải tiếp nhận thêm nguồn bệnh nhân từ 5 huyện khác là: Quế Phong, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quỳnh Lưu, Tân Kỳ. Trong 5 tháng đầu năm 2012, số lượt sản phụ sinh tại bệnh viện là 1.291 ca. Trung bình mỗi ngày khoa tiếp nhận 8-10 ca đẻ. Bệnh nhân đông gấp nhiều lần như vậy nhưng trang thiết bị không được trang bị mới, hầu hết các thiết bị đều cũ kỹ, lạc hậu, không phục vụ được nhu cầu của bệnh nhân”.
Theo BS. Trường: “Phòng đẻ của khoa rất chật, chỉ đủ chỗ kê được 2 bàn đẻ mà cả 2 chiếc bàn đẻ này đều đã cũ và không đủ tiêu chuẩn. Cả khoa chỉ có 1 máy thở, lồng ấp để chăm sóc trẻ sơ sinh đặc biệt cũng chỉ có 1 nhưng hiện nay đang trong tình trạng hỏng. Máy monitor - một thiết bị cực kỳ cần thiết theo dõi quá trình chuyển dạ, phát hiện tình trạng mẹ và thai nhi để có hướng xử trí kịp thời cũng chỉ có 1 cái mà là được mua từ nguồn vốn xã hội hóa”.
1 máy thở CPAP cho 1 khoa sơ sinh
Nằm trong khoa Nhi BVĐK khu vực Tây Bắc tỉnh Nghệ An, buồng bệnh chăm sóc sơ sinh thực hiện nhiệm vụ chăm sóc trẻ sơ sinh nhẹ cân, non tháng và sơ sinh bệnh lý. Là buồng chăm sóc trẻ sơ sinh đặc biệt nhưng trang thiết bị hết sức sơ sài. 2 đèn chiếu điều trị vàng da và 1 máy thở CPAP. Các bác sĩ ở đây cho biết, thiếu trang thiết bị đã ảnh hưởng rất lớn đến công tác chuyên môn. Nhiều trường hợp có thể giữ lại điều trị tại bệnh viện thì lại phải chuyển lên tuyến trên gây tốn kém cho gia đình và nguy hiểm đến tính mạng bệnh nhân.
Trong buổi tham gia ca trực tại bệnh viện đêm 13/6/2012, chúng tôi đã chứng kiến một trường hợp trẻ sinh non nhẹ cân có dấu hiệu suy hô hấp buộc phải chuyển lên Bệnh viện tỉnh Nghệ An (cách đó 108km) chỉ vì bệnh viện khu vực thiếu máy thở. Vẻ mặt buồn thiu, BS. Lan Anh - Trưởng khoa Nhi ngậm ngùi: “Chúng tôi lực bất tòng tâm! Với tình trạng trẻ 34 tuần thai, cân nặng 1.700gr nếu bệnh viện có đủ thiết bị chăm sóc thì người nhà bệnh nhân và bác sĩ đâu phải lo lắng đến vậy, việc cứu sống em bé là việc làm trong tầm tay”.
Lại thêm nhiều áp lực
Quá tải bệnh viện, trang thiết bị thiếu thốn, cơ sở vật chất chật chội là một thực tế hiện hữu tại các cơ sở CSSKSS. BS. Tăng Việt Hà tâm sự: “Nhu cầu khám chữa bệnh của người dân ngày càng cao mà cơ sở vật chất và nguồn nhân lực chưa phát triển kịp so với nhu cầu. Tình trạng quá tải tại khoa sản, nhi đã trở thành thường xuyên thực sự là một áp lực đối với ngành y tế địa phương”.
BS. Hà cho biết thêm: “Gần đây, các phương tiện thông tin đại chúng liên tục đăng tải các ca tử vong mẹ vì lý do này hay lý do khác. Thêm vào đó, việc can thiệp quá sâu của người nhà bệnh nhân vào công tác chuyên môn cũng là một áp lực tâm lý cực kỳ lớn đối với các bác sĩ sản khoa”.
Chia sẻ về công việc, BS. Nguyễn Bá Tân - Giám đốc Trung tâm CSSKSS tỉnh Nghệ An nói: “Ngành sản là ngành hết sức nghiệt ngã. Tai biến sản khoa khó tránh khỏi. Khi vào bệnh viện, bệnh nhân hoàn toàn bình thường, cuộc đẻ diễn ra rất bình thường nhưng ngay sau đó, bệnh nhân có thể chảy máu ồ ạt, sản phụ tử vong trong giây phút.
Tâm lý của người thầy thuốc là bao giờ cũng muốn cứu sống bệnh nhân nhưng có những trường hợp cũng chỉ biết bó tay đứng nhìn. Chính vì tính chất công việc như vậy nên chúng tôi rất cần được sự cảm thông, chia sẻ từ phía người bệnh và gia đình. Có như vậy thì mới giảm bớt phần nào áp lực vốn đã quá nặng cho các bác sĩ sản khoa”.
Rất cần sự quan tâm
Theo báo cáo của Trung tâm CSSKSS tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa, trong năm 2011 và 5 tháng đầu năm 2012, các chỉ số về CSSKSS đều đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tại Thanh Hóa, tỷ lệ phụ nữ có thai được quản lý là 98,5%, tỷ lệ phụ nữ đẻ do cán bộ y tế đỡ đạt 99%. Trong năm 2011, giảm 10% số ca tai biến sản khoa; giảm 10% tỷ lệ tử vong mẹ.
Tỷ lệ sơ sinh nhẹ cân chỉ còn 5%, tỷ lệ tử vong sơ sinh còn 14%o, trong khi đó, tỷ lệ tử vong sơ sinh trên toàn quốc là 15 - 18%o. Tại Nghệ An, tỷ lệ phụ nữ đẻ đi khám thai 3 lần/kỳ thai nghén là 73%, phụ nữ đẻ tại cơ sở y tế đạt 95,5%, tỷ lệ phụ nữ đẻ có cán bộ y tế giúp đỡ là 96,3%, tỷ lệ tử vong bà mẹ do thai sản giảm còn 17/100.000 ca đẻ sống (theo điều tra nghiên cứu năm 2009 - 2010 là 76/100.000 ca).
Có được những thành tích trên là sự nỗ lực không ngừng của đội ngũ cán bộ làm công tác CSSKSS. Tuy nhiên, để hệ thống CSSKSS hoạt động hiệu quả hơn, rất cần sự quan tâm hơn nữa của Bộ Y tế, của lãnh đạo các cấp từ tỉnh đến huyện, thị xã về công tác CSSKSS. Các cơ sở CSSKSS rất cần được đầu tư nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và các trang thiết bị tối thiểu để phục vụ tốt hơn cho việc chăm sóc điều trị người bệnh.
Bài và ảnh: Ngọc Trâm