Chấm dứt dịch bệnh AIDS trước năm 2030, Việt Nam cần làm gì để về đích?

Xã hội
SKĐS - Việt Nam đạt nhiều kết quả trong phòng, chống HIV/AIDS, song khó khăn về tài chính, dịch tễ và tiếp cận dịch vụ… đòi hỏi giải pháp đồng bộ để về đích trước năm 2030.

Ngày 15/10/2026, tại Hải Phòng, Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Bộ Y tế tổ chức Hội thảo " Định hướng nhiệm vụ, giải pháp tiến tới chấm dứt dịch bệnh AIDS tại Việt Nam trước năm 2030".

5 năm thực hiện Chỉ thị 07-CT/TW: Hoàn thiện thể chế, chủ động bảo đảm nguồn lực phòng, chống HIV/AIDS

Trong 5 năm qua, công tác phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam đạt nhiều kết quả tích cực, từ nâng cao nhận thức chính trị đến cải thiện hiệu quả các hoạt động can thiệp chuyên môn. Ông Nguyễn Xuân Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Y tế và Thể thao (Ban Tuyên giáo Trung ương) cho biết, việc triển khai Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 6/7/ 2021 của Ban Bí thư đã góp phần chuyển đổi nhận thức về công tác phòng, chống HIV/AIDS, không chỉ là nhiệm vụ của ngành y tế mà còn là nhiệm vụ chính trị quan trọng, gắn với chiến lược bảo đảm an sinh xã hội.

Cùng với đó, hệ thống pháp luật tiếp tục được hoàn thiện, trong đó có việc cụ thể hóa Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống HIV/AIDS năm 2020. Đáng chú ý, đến nay, 92% tỉnh, thành phố đã chủ động phê duyệt kế hoạch bảo đảm tài chính dài hạn, tạo cơ sở để các địa phương tăng cường tính chủ động trong phân bổ và huy động nguồn lực cho công tác phòng, chống HIV/AIDS.

Chấm dứt dịch bệnh AIDS trước năm 2030: Việt Nam cần làm gì để về đích? - Ảnh 1.

Ông Nguyễn Xuân Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Y tế và Thể thao (Ban Tuyên giáo Trung ương) báo cáo tại Hội thảo.

Đối với công tác chăm sóc, điều trị và phòng ngừa, PGS.TS. Phạm Đức Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) cho biết: Việt Nam tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực trong điều trị ARV, mở rộng dự phòng và xét nghiệm HIV.

Điều trị ARV đạt tỷ lệ ức chế tải lượng virus cao: Toàn quốc hiện có 514 cơ sở y tế triển khai điều trị HIV, bao gồm cả các cơ sở trong trại giam. Tính đến giữa tháng 6/2026, có 191.706 người đang điều trị bằng thuốc kháng virus (ARV), trong đó có 189.871 người lớn và 1.835 trẻ em. Đáng chú ý, tỷ lệ bệnh nhân điều trị ARV đạt mức ức chế tải lượng virus dưới ngưỡng phát hiện là 95,6%, vượt mục tiêu đề ra trong Chiến lược quốc gia.

Mở rộng tiếp cận dịch vụ dự phòng trước phơi nhiễm HIV: Trong lĩnh vực dự phòng, năm 2023, Việt Nam được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ghi nhận là quốc gia dẫn đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương về số người tiếp cận dự phòng trước phơi nhiễm HIV (PrEP). Đến năm 2026, số khách hàng lũy tích sử dụng PrEP trên toàn quốc đạt 146.602 người, trong đó 26.343 người đang duy trì sử dụng dịch vụ.

Chấm dứt dịch bệnh AIDS trước năm 2030: Việt Nam cần làm gì để về đích? - Ảnh 2.

PGS.TS. Phạm Đức Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) phát biểu tại Hội nghị.

Đẩy mạnh xét nghiệm và chuyển đổi số trong giám sát dịch tễ: Mạng lưới xét nghiệm HIV tiếp tục được mở rộng với hơn 1.700 cơ sở xét nghiệm sàng lọc, thực hiện trên 2 triệu lượt xét nghiệm mỗi năm và 237 phòng xét nghiệm khẳng định HIV tại 34/34 tỉnh, thành phố. Nền tảng tự xét nghiệm HIV trực tuyến tại địa chỉ tuxetnghiem.vn cũng đã được triển khai ở 25 tỉnh.

Cùng với mở rộng mạng lưới xét nghiệm, hệ thống quản lý thông tin HIV-INFO phiên bản 4.0 và phần mềm HMED được kết nối đồng bộ. Chiến dịch 90 ngày "làm sạch, làm giàu" dữ liệu góp phần nâng cao chất lượng thông tin, phục vụ công tác quản lý và giám sát tình hình dịch HIV/AIDS.

Đối với nhóm tuổi lao động, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã phối hợp với Bộ Y tế triển khai Quy chế phối hợp số 800/QC-TLĐ-BYT và Kế hoạch số 190/KH-TLĐ. Thông qua các chương trình giao ban liên ngành và hoạt động truyền thông trực tiếp tại doanh nghiệp, nhiều mô hình can thiệp đã được triển khai, tiêu biểu như mô hình Safe-Zone tại TP.HCM và các chương trình tại Cần Thơ, Yên Bái, Lào Cai, Hải Phòng. Qua đó, hàng nghìn công nhân tại các khu công nghiệp được tư vấn, khám sức khỏe và xét nghiệm sàng lọc HIV miễn phí ngay tại nơi làm việc, góp phần đưa dịch vụ chăm sóc sức khỏe đến gần hơn với người lao động.

Các tổ chức cộng đồng (CBO) đã phát huy vai trò không thể thay thế trong 6 khâu cốt lõi: Chủ động tìm ca nhiễm mới trong môi trường ẩn danh/mạng xã hội; nâng cao kiến thức sức khỏe bằng ngôn ngữ đời thường; cung cấp vật dụng can thiệp (bao cao su, chất bôi trơn); đồng hành giữ chân người bệnh điều trị ARV; lan tỏa thông điệp K=K (Không phát hiện = Không lây truyền) và tham gia đánh giá chất lượng dịch vụ y tế (CLM).

Chấm dứt dịch bệnh AIDS trước năm 2030: Việt Nam cần làm gì để về đích? - Ảnh 3.

Bà Hồ Thị Kim Ngân – Đại diện Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phát biểu tại hội nghị.

2. Rào cản nào cần tháo gỡ?

Bên cạnh những kết quả đạt được, các đại biểu đã chỉ ra những khó khăn, vướng mắc có thể ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS tại Việt Nam trước năm 2030.

Nhiều chỉ tiêu chiến lược chưa đạt và sự chuyển dịch hình thái dịch: Theo đánh giá của Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) và Ban Tuyên giáo Trung ương, khi rà soát 18 chỉ tiêu Chiến lược quốc gia đến năm 2025, toàn quốc mới chỉ đạt 3 chỉ tiêu, 6 chỉ tiêu gần đạt và còn tới 9 chỉ tiêu chưa đạt.

Số ca nhiễm mới ghi nhận hằng năm vẫn vượt mốc 10.000 ca (năm 2025 ghi nhận 9.946 ca mới), trong khi mục tiêu đến năm 2030 phải giảm xuống dưới 1.000 ca/năm. Tỷ lệ người nhiễm HIV biết tình trạng của mình được điều trị ARV mới đạt 80,5% (chưa đạt chỉ tiêu 90% của năm 2025).

Tỷ lệ tiếp cận dịch vụ dự phòng ở các nhóm nguy cơ cao còn rất thấp: Người nghiện chích ma túy đạt 42,0%, phụ nữ bán dâm đạt 40,0%, nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) đạt 54,0%. Mức độ hiểu biết đầy đủ về HIV/AIDS ở lứa tuổi thanh niên mới đạt 39,8% ở nữ và 48,7% ở nam (mục tiêu là 80%).

Đường lây truyền qua quan hệ tình dục không an toàn tăng nhanh, trở thành đường lây chính (chiếm 61,9% số ca mới năm 2025). Nam giới chiếm 83,1% số ca nhiễm mới và nhóm tuổi trẻ 16–29 tuổi chiếm tới 41,4%. Các hành vi nguy cơ diễn ra ẩn danh trên mạng xã hội và các ứng dụng hẹn hò, đi kèm tình trạng lạm dụng ma túy tổng hợp gây rất nhiều khó khăn cho công tác can thiệp.

Chấm dứt dịch bệnh AIDS trước năm 2030: Việt Nam cần làm gì để về đích? - Ảnh 4.

Quang cảnh hội nghị.

Thách thức lớn về nguy cơ đứt gãy tài chính quốc tế: Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc 100% vào nguồn viện trợ nước ngoài đối với thuốc điều trị dự phòng PrEP, sinh phẩm/kit test xét nghiệm sàng lọc HIV và thuốc ARV chuyên biệt dành cho trẻ em. Ngoài ra, quá trình sáp nhập các đơn vị hành chính và mô hình chính quyền địa phương cũng gây xáo trộn, thiếu hụt lực lượng cán bộ chuyên trách tuyến cơ sở.

Công nhân khó tiếp cận dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS: Báo cáo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho biết, người lao động tại các khu công nghiệp vẫn gặp nhiều rào cản trong tiếp cận dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS. Thời gian làm việc theo ca kíp kéo dài khiến họ khó đi khám, xét nghiệm trong giờ hành chính; tâm lý lo ngại lộ thông tin, bị kỳ thị hoặc phân biệt đối xử tại nơi làm việc cũng khiến nhiều người e ngại tiếp cận dịch vụ. Bên cạnh đó, việc thiếu thông tin về địa điểm tư vấn, xét nghiệm bảo mật gần nơi ở, tình trạng việc làm không ổn định ảnh hưởng đến tính liên tục của bảo hiểm y tế và những bất cập trong cung ứng thuốc ARV có thể gây thêm khó khăn cho quá trình điều trị.

Vướng mắc về cơ chế cho tổ chức cộng đồng: Mặc dù cộng đồng đóng vai trò then chốt trong việc tiếp cận các nhóm đích nguy cơ cao nhưng hành lang pháp lý hiện nay vẫn chưa có cơ chế chi trả tài chính chính thức để "đặt hàng" dịch vụ từ các CBO, khiến hoạt động của khối này thiếu tính bền vững khi viện trợ rút lui.

3. Giải pháp thúc đẩy mục tiêu chấm dứt dịch AIDS trước năm 2030

Để hiện thực hóa mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS trước năm 2030, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực, đổi mới truyền thông, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và phát huy vai trò của cộng đồng.

Hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực bền vững: Theo đó, tiếp tục hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Phòng, chống HIV/AIDS; đồng thời khẩn trương ổn định tổ chức bộ máy chuyên trách từ Trung ương đến địa phương sau sắp xếp đơn vị hành chính, có chính sách đãi ngộ phù hợp nhằm duy trì đội ngũ cán bộ y tế cơ sở.

Một nhiệm vụ quan trọng khác là bảo đảm nguồn lực tài chính bền vững cho công tác phòng, chống HIV/AIDS trong bối cảnh nguồn viện trợ quốc tế có xu hướng giảm. Các giải pháp được đề xuất gồm hoàn thiện cơ chế sử dụng quỹ bảo hiểm y tế (BHYT) và ngân sách nhà nước để từng bước thay thế nguồn viện trợ, phấn đấu đạt 100% người nhiễm HIV tham gia BHYT. Đồng thời, cần xây dựng lộ trình chủ động nguồn cung thuốc dự phòng trước phơi nhiễm HIV (PrEP), sinh phẩm xét nghiệm sàng lọc và thuốc ARV dành cho trẻ em.

Cùng với đó, cần đổi mới phương thức truyền thông theo hướng tăng cường ứng dụng nền tảng số, tập trung vào các nhóm đối tượng như giới trẻ, học sinh, sinh viên và công nhân khu công nghiệp. Việc lồng ghép phòng, chống HIV/AIDS với các chương trình mục tiêu quốc gia về phòng, chống ma túy và y tế - dân số cũng được đặt ra nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Bên cạnh đó, cần hiện đại hóa hệ thống dữ liệu quốc gia về HIV/AIDS, trong đó có HIV-INFO và HMED, đồng thời nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dự báo dịch tễ.

Đưa dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS đến gần người lao động: Đối với công nhân tại các khu công nghiệp, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đề xuất tổ chức dịch vụ y tế linh hoạt hơn, phù hợp với đặc thù làm việc theo ca kíp. Các giải pháp có thể bao gồm cấp phát thuốc ARV nhiều tháng đối với người bệnh đủ điều kiện, phát triển dịch vụ PrEP lưu động và tư vấn PrEP từ xa (Tele-PrEP). Mạng lưới cung cấp dịch vụ cần được mở rộng theo hướng thuận tiện cho người lao động, từ điểm tư vấn riêng tư tại nơi làm việc, điểm dịch vụ cộng đồng gần khu nhà trọ đến các cơ sở y tế có khả năng phục vụ ngoài giờ hành chính.

Bên cạnh việc cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ, tăng cường phòng, chống kỳ thị và phân biệt đối xử với người sống chung với HIV tại nơi làm việc. Doanh nghiệp bảo đảm quyền riêng tư về tình trạng HIV, không tổ chức xét nghiệm HIV bắt buộc đại trà trong tuyển dụng, không công khai kết quả xét nghiệm và bảo đảm quyền làm việc bình đẳng của người lao động. Truyền thông về thông điệp K=K (không phát hiện = không lây truyền qua đường tình dục) cũng cần được đẩy mạnh nhằm giảm kỳ thị và nâng cao nhận thức về hiệu quả điều trị HIV.

Phát huy vai trò của các tổ chức cộng đồng: Đối với hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại cộng đồng, hoàn thiện cơ chế đặt hàng dịch vụ cộng đồng, tạo hành lang pháp lý để sử dụng ngân sách nhà nước chi trả cho các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS do những tổ chức dựa vào cộng đồng (CBO) đủ năng lực cung cấp.

Các dịch vụ cũng cần được phát triển theo hướng chăm sóc sức khỏe toàn diện, không chỉ tập trung vào HIV/AIDS mà còn lồng ghép tư vấn sức khỏe tinh thần, sàng lọc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, viêm gan B, viêm gan C và các bệnh không lây nhiễm.

Đồng thời, ghi nhận và phát huy vai trò của các tổ chức cộng đồng như những đối tác quan trọng trong đáp ứng với HIV/AIDS ở Việt Nam. Việc tăng cường phối hợp giữa hệ thống y tế công lập và các tổ chức cộng đồng sẽ góp phần mở rộng độ bao phủ dịch vụ, tiếp cận hiệu quả hơn các nhóm có nguy cơ và hỗ trợ người sống chung với HIV duy trì điều trị lâu dài.

Mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS trước năm 2030 đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ của cả hệ thống chính trị, ngành Y tế, tổ chức Công đoàn và cộng đồng... Sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, năng lực chuyên môn, bảo đảm nguồn lực và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ sẽ góp phần giúp Việt Nam tiến gần hơn đến mục tiêu đề ra.
Chấm dứt dịch bệnh AIDS trước năm 2030, Việt Nam cần làm gì để về đích? - Ảnh 5.Các loại vaccine người nhiễm HIV nên tiêm để phòng bệnh truyền nhiễm

SKĐS - Người nhiễm HIV có nguy cơ mắc một số bệnh truyền nhiễm nặng hơn, tiêm vaccine đúng chỉ định giúp giảm nguy cơ biến chứng và tử vong.

Ý kiến của bạn