1. Việt Nam có nền tảng pháp lý vững chắc và đạt nhiều thành tựu về điều trị và dự phòng HIV
Phát biểu tại Hội thảo " Định hướng nhiệm vụ, giải pháp tiến tới chấm dứt dịch bệnh AIDS tại Việt Nam trước năm 2030" do Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Bộ Y tế tổ chức ngày 15/10 tại Hải Phòng, PGS.TS Phan Thị Thu Hương, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Phòng chống HIV/AIDS Việt Nam, nguyên Cục trưởng Cục Phòng, chống HIV/AIDS, nay là Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) chia sẻ, hơn 1,5 năm kể từ khi chuyển sang công tác quản lý tại Trường Đại học Y Hà Nội, bà chưa từng ngừng trăn trở về mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS.
PGS.TS Phan Thị Thu Hương, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Phòng chống HIV/AIDS Việt Nam, nguyên Cục trưởng Cục Phòng, chống HIV/AIDS, nay là Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế).
Nhìn lại chặng đường 30 năm gắn bó với ngành, từ thời điểm số ca nhiễm HIV tại Việt Nam mới chỉ đếm trên đầu ngón tay đến khi con số lên tới hàng trăm nghìn người, bà khẳng định những nỗ lực bền bỉ của nhiều thế hệ đã tạo ra những bằng chứng khoa học cụ thể, góp phần giúp hàng triệu người tránh lây nhiễm HIV và cứu sống hơn 500.000 người tránh khỏi tử vong do AIDS trong suốt thời gian vừa qua.
Ở nước ta, công tác phòng, chống HIV/AIDS được triển khai với sự phối hợp liên ngành và sự chỉ đạo xuyên suốt của Trung ương, thể hiện qua Chỉ thị 54-CT/TW năm 2005, Kết luận 27-KL/TW năm 2011 và đặc biệt là Chỉ thị 07-CT/TW ngày 6/7/2021 của Ban Bí thư. Chỉ thị 07-CT/TW xác định rõ trách nhiệm, nhiệm vụ và các mốc mục tiêu, trong đó đặt ra yêu cầu tiến tới chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030.
Có thể nói hiếm có lĩnh vực phòng, chống dịch bệnh nào được xây dựng một hệ thống chính sách và hành lang pháp lý toàn diện như HIV/AIDS. Việt Nam có Luật Phòng, chống HIV/AIDS và hàng loạt văn bản pháp quy nghị định, thông tư nhằm hoàn thiện khung pháp lý; đồng thời Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Chiến lược quốc gia liên tiếp theo từng giai đoạn, đảm bảo phù hợp với tình hình diễn biến của dịch, các định hướng và cơ chế chỉ đạo xuyên suốt. Đây là nền tảng quan trọng để huy động sự tham gia của toàn hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và cộng đồng, hướng tới mục tiêu chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030.
Tính đến giữa tháng 6/2026, cả nước có 191.706 bệnh nhân đang điều trị ARV tại 514 cơ sở y tế; tỷ lệ bệnh nhân có tải lượng virus dưới ngưỡng phát hiện đạt 95,6%, vượt mục tiêu Chiến lược quốc gia đề ra. Mạng lưới dự phòng cũng được mở rộng với hơn 1.700 cơ sở xét nghiệm sàng lọc và 237 phòng xét nghiệm khẳng định, phủ khắp 34/34 tỉnh, thành phố.
Tuy nhiên, PGS.TS Phan Thị Thu Hương nhấn mạnh một thực tế khoa học đầy thách thức: Trong suốt 45 năm qua, thế giới đã đầu tư hàng chục tỷ USD cho nghiên cứu nhưng vẫn chưa tìm ra vaccine phòng HIV, khác với một số dịch bệnh như vaccine COVID-19 được phát triển trong khoảng 1–2 năm. Ngay cả tại các hội nghị khoa học lớn trên thế giới được tổ chức định kỳ 2 năm một lần, vấn đề vaccine HIV vẫn là một thách thức chưa có lời giải.

PGS.TS Phan Thị Thu Hương chia sẻ tại Hội thảo.
2. Nhận diện 4 khoảng trống nguy cơ có thể làm bùng phát dịch
Dù đạt nhiều kết quả tích cực, PGS.TS Phan Thị Thu Hương vẫn trăn trở trước 4 khoảng trống nguy cơ có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thực hiện mục tiêu năm 2030:
Thứ nhất, bẫy con số và nguy cơ dịch ngầm tiềm ẩn: Báo cáo của Cục Phòng bệnh cho biết, trong giai đoạn 2025 - 2026, số ca HIV phát hiện mới có xu hướng giảm, từ khoảng 13.000 - 14.000 ca/năm trước đây xuống còn khoảng dưới 10.000 ca/năm. Năm 2025 ghi nhận 9.946 ca. Tuy nhiên, theo PGS.TS Phan Thị Thu Hương, cần xem xét liệu xu hướng giảm này có khớp với giảm số mới nhiễm, phản ánh đúng diễn biến dịch hay còn chịu ảnh hưởng từ quy mô thu thập dữ liệu và tần suất xét nghiệm sàng lọc do những thay đổi nguồn lực đột ngột từ một số nhà tài trợ. Đây là cơ sở quan trọng để đánh giá sát tình hình dịch và hạn chế bỏ sót những người nhiễm HIV chưa được phát hiện trong cộng đồng là nguồn tiềm ẩn lây lan dịch thời gian tới.
Thứ hai, sự sụt giảm nguồn lực và nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng PrEP, xét nghiệm sàng lọc: Năm 2025, các tổ chức quốc tế như PEPFAR và USAID cắt giảm mạnh nguồn lực viện trợ. Trong khi đó, quá trình chuyển giao sang nguồn lực trong nước còn vội vàng, khiến số người sử dụng thuốc dự phòng trước phơi nhiễm HIV (PrEP) giảm mạnh, từ 54.000 người xuống chỉ còn 27.000 người do đứt gãy nguồn cung làm nguy cơ lây nhiễm HIV qua quan hệ tình dục có nguy cơ tăng trở lại.
Theo báo cáo sơ kết của Ban Tuyên giáo Trung ương, Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc 100% vào nguồn viện trợ nước ngoài đối với thuốc PrEP, sinh phẩm/kit xét nghiệm sàng lọc và thuốc ARV điều trị cho trẻ em. Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chủ động nguồn lực trong nước, bảo đảm nguồn cung thuốc và sinhphẩm, tránh để các chương trình dự phòng và điều trị bị ảnh hưởng khi viện trợ quốc tế thay đổi.
Thứ ba, sự chuyển dịch hình thái lây nhiễm ngày càng phức tạp: Dịch HIV đang chuyển dịch nhanh chóng từ nhóm tiêm chích ma túy trước kia, sang nhóm sử dụng ma túy tổng hợp, có thể gây ảo giác, gây quan hệ tình dục tập thể và thiếu biện pháp an toàn sẽ làm gia tăng nguy cơ lây nhiễm HIV và các bệnh qua quan hệ tình dục như STIs và viêm gan virus B, C. Báo cáo của Cục Phòng bệnh cho thấy lây truyền HIV qua đường tình dục hiện chiếm tới 61,9% số ca mới; nam giới chiếm 83,1% và nhóm tuổi trẻ từ 16 - 29 tuổi chiếm tới 41,4%.
Trong bối cảnh đó, nếu nguồn cung PrEP bị gián đoạn và số lượng bao cao su được phân phát sụt giảm, nguy cơ dịch bùng phát trở lại sẽ tăng lên. Điều này đòi hỏi các biện pháp dự phòng phải thích ứng với sự thay đổi về hình thái lây truyền và đặc điểm của các nhóm nguy cơ.
Thứ tư, thách thức từ chuyển đổi mô hình y tế cơ sở: Công tác phòng, chống HIV/AIDS đang chuyển giao trọng tâm từ tuyến huyện xuống trạm y tế xã/phường. Tuy nhiên, lực lượng cán bộ y tế cơ sở mới tiếp nhận nhiệm vụ còn thiếu kinh phí và chưa được tập huấn kịp thời và nhiều kinh nghiệm với nhóm đối tượng nguy cơ cao là nhóm khó tiếp cận.
Trong khi đó, dân số Việt Nam hiện đã tăng lên hơn 101 triệu người. Quy mô dân số tăng kéo theo nhu cầu chăm sóc sức khỏe và dự phòng lớn hơn, đòi hỏi biên chế và năng lực y tế dự phòng phải được tăng cường tương ứng, thay vì chỉ giữ nguyên thậm chí bị giảm.
3. Giải pháp trọng tâm: Đổi mới tư duy quản trị và hành động liên ngành
Từ việc phân tích đặc thù của công tác y tế dự phòng, PGS.TS Phan Thị Thu Hương nhấn mạnh: "Bác sĩ điều trị, nhiều bệnh có thể khám bệnh tại chỗ, bệnh nhân sẽ tìm đến, còn y tế dự phòng phải chủ động đi tìm bệnh nhân và người có nguy cơ cao để ngăn chặn sớm nguồn lây". Theo bà, đặc thù này đòi hỏi cách tiếp cận chủ động, sự phối hợp liên ngành và những giải pháp quản lý cũng như chế độ ưu đãi phù hợp và kịp thời:
Bảo vệ chuỗi điều trị, tránh gánh nặng tài chính bùng nổ: PGS.TS Phan Thị Thu Hương cảnh báo, nếu bệnh nhân gián đoạn điều trị ARV, nguy cơ kháng thuốc sẽ tăng lên và chi phí phác đồ điều trị cao có thể tăng gấp 15 - 20 lần với phác độ bậc 1. Nếu dừng PrEP, người nhiễm HIV và mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội có thể gia tăng, kéo theo áp lực lớn đối với khả năng chi trả của Quỹ Bảo hiểm y tế (BHYT). Do đó, việc chủ động nguồn thuốc ARV và PrEP trong nước là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm điều trị liên tục, duy trì hiệu quả phòng, chống HIV/AIDS và hạn chế gánh nặng tài chính phát sinh.
Lồng ghép thông minh trong chương trình khám sức khỏe toàn dân: Trong bối cảnh triển khai gói khám sức khỏe toàn dân qua BHYT, PGS.TS Phan Thị Thu Hương kiến nghị mỗi bác sĩ khi khám có thể hỏi thêm một câu: "Anh/chị có hành vi nguy cơ không, đã từng xét nghiệm HIV chưa?" để từ đó cung cấp số hotline tư vấn chuyên khoa riêng. Theo đó, việc lồng ghép tư vấn sẽ giúp người dân có thêm cơ hội tiếp cận dịch vụ chuyên môn, được hướng dẫn xét nghiệm và dự phòng phù hợp, đồng thời bảo đảm tính bảo mật, hạn chế nguy cơ HIV/AIDS bị bỏ sót trong các gói khám sức khỏe chung.
Đưa chỉ tiêu HIV/AIDS vào KPI đánh giá cấp ủy Đảng: Để giảm từ phát hiện 30.000 người nhiễm HIV từ năm 2005 xuống 10.000 ca phát hiện vào năm 2025, mất 20 năm để giảm được 20.000 ca đó. Giờ chúng ta chỉ còn 4 năm là tới năm 2030, làm sao giảm được từ 10.000 ca mỗi năm xuống 1000 ca mới đảm bảo mục tiêu Chấm dứt dịch AIDS vi vậy PGS.TS Phan Thị Thu Hương đề nghị trong quá trình đánh giá việc thực hiện Chỉ thị 07-CT/TW, Ban Tuyên giáo Trung ương nghiên cứu tham mưu Ban Bí thư giao chỉ tiêu KPI đánh giá hằng năm của cấp ủy Đảng từ cấp tỉnh đến cấp xã/phường đảm bảo lộ trình chấm dứt dịch vào năm 2030. Theo bà, chỉ khi có sự vào cuộc sát sao của các Ban Đảng mới có thể huy động hệ thống chính quyền cùng phối hợp, thống nhất trách nhiệm và hành động quyết liệt để thực hiện mục tiêu đã đề ra.
Ba mũi nhọn hành động hướng tới năm 2030
- Tự chủ tài chính: Chuyển dịch sang nguồn lực BHYT và ngân sách trong nước để thay thế viện trợ.
- Đổi mới y tế cơ sở: Tổ chức tập huấn liên tục, lồng ghép tư vấn HIV/AIDS trong các dịch vụ khám chữa bệnh qua BHYT.
- Cam kết chính trị: Đưa chỉ tiêu HIV/AIDS vào KPI đánh giá hằng năm của cấp ủy Đảng.
Bên cạnh vai trò của ngành y tế, việc phát huy vai trò liên ngành lẫn mạng lưới cộng đồng sẽ góp phần mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ, tăng cường kết nối người có nguy cơ với các chương trình xét nghiệm, tư vấn, dự phòng và điều trị HIV/AIDS.

