Chậm, chờ... thất thoát tiền tỷ

Thời sự
Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) từ ngân sách Nhà nước giai đoạn 2005-2007 là 237.447 tỷ đồng, chiếm khoảng trên 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, trong đó ngân sách Nhà nước (NSNN) do địa phương quản lý là 151.774 tỷ đồng và các bộ, ngành trung ương là 85.673 tỷ đồng.

Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) từ ngân sách Nhà nước giai đoạn 2005-2007 là 237.447 tỷ đồng, chiếm khoảng trên 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, trong đó ngân sách Nhà nước (NSNN) do địa phương quản lý là 151.774 tỷ đồng và các bộ, ngành trung ương là 85.673 tỷ đồng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật về đầu tư XDCB sử dụng vốn Nhà nước ở các bộ, ngành, địa phương từ năm 2005 đến năm 2007 đã bộc lộ những “lỗ hổng” dẫn đến tình trạng thất thoát lãng phí không nhỏ từ nguồn vốn XDCB.

Luật “chờ” nghị định, thông tư

Liên quan đến việc thực hiện chính sách pháp luật về đầu tư XDCB sử dụng vốn Nhà nước, hiện có tình trạng các văn bản dưới luật chậm ban hành dẫn đến việc luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư. Ví dụ: Luật xây dựng được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003, có hiệu lực từ ngày 1/7/2004 nhưng đến ngày 7/2/2005 mới có Nghị định 16/2005/NĐ-CP hướng dẫn thi hành (sau hơn 7 tháng khi Luật có hiệu lực) và đến ngày 29/7/2005 Bộ Xây dựng mới ban hành Quyết định số 24/2005/QĐ-BXD “Định mức dự toán công trình - phần xây dựng” và cho đến tận tháng 9/2005, mới có Thông tư số 08/2005/TT-BXD hướng dẫn về lập, thẩm định dự án.

Hai đầu cầu Thanh Trì tốn thêm hàng chục tỷ đồng để làm đường tạm thông xe.
 
Luật đấu thầu được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 có hiệu lực từ ngày 1/4/2006 nhưng 5 tháng sau, ngày 29/9/2006 mới ban hành Nghị định 111/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành. Luật doanh nghiệp được ban hành năm 2005 trong đó giao Chính phủ quy định về Tập đoàn kinh tế nhưng đến nay vẫn chưa có nghị định. Một số nghị định được sửa đổi, bổ sung nhưng các quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo chưa được sửa đổi kịp thời; chưa sửa đổi nội dung về công tác giám sát, đánh giá đầu tư, quản lý đầu tư không có xây dựng công trình tạo ra khoảng trống pháp lý.

Có những văn bản mới ban hành một thời gian ngắn đã phải sửa đổi, bổ sung, ảnh hưởng đến công tác quản lý, nhất là các dự án đang triển khai, gây lúng túng, tâm lý chờ đợi cho các đối tượng trong việc triển khai thực hiện nhất là ở địa phương, tạo ra nhiều dự án chuyển tiếp giữa các quy định cũ và mới. Ví dụ: Nghị định 112/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 sửa đổi, bổ sung Nghị định 16/2005/NĐ-CP ngày 07/2/2005, Nghị định 58/2008/NĐ-CP ngày 15/4/2008 thay thế Nghị định 111/NĐ-CP ngày 29/9/2006; Nghị định số 03/2008/NĐ-CP ngày 07/1/2008 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 99/2007/NĐ-CP ngày 13/6/2007. Một số văn bản địa phương vừa hướng dẫn thực hiện thì văn bản của Trung ương lại có sự thay đổi khiến việc nắm bắt, triển khai áp dụng gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với cấp huyện, cũng như ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thanh toán vốn đầu tư.

Đầu tư thiếu đồng bộ, lãng phí còn phổ biến

Trong giai đoạn 2005-2007, tiến độ các dự án sử dụng vốn nhà nước rất chậm, thủ tục đầu tư xây dựng rườm rà, hiệu quả đầu tư của nhiều dự án thấp, còn thất thoát, lãng phí so với đầu tư bằng nguồn vốn khác. Tình trạng bố trí vốn dàn trải, đầu tư thiếu đồng bộ vẫn còn khá phổ biến

Nếu như năm 2005 có 2.280 dự án chậm tiến độ, chiếm 9,2% tổng số dự án thực hiện đầu tư trong năm (trong đó có 48 dự án nhóm A), thì con số này tăng nhanh trong 2 năm tiếp theo, năm 2006 có 3.595 dự án chậm tiến độ, chiếm 13,1% (25 dự án nhóm A); 3.979 dự án chậm tiến độ trong năm 2007, chiếm 13,9% (19 dự án nhóm A).

Nhiều dự án quy mô lớn đã được “chỉ tên” như công trình giảng đường ĐHQG TP.HCM hoàn thành từ tháng 2/2006 nhưng 2007 vẫn chưa đưa vào sử dụng; nhà máy xử lý nước thải khu đô thị Bắc Thăng Long - Vân Trì trị giá hơn 65 tỷ đồng và 1.255 triệu yên hoàn thành bàn giao từ tháng 10/2005 nhưng vẫn chưa thể vận hành do chưa được cung cấp nguồn điện. Ngoài ra, nhà máy cấp nước giai đoạn I khu đô thị này mới đạt 22,32% công suất, làm chậm phát huy hiệu quả và lãng phí vốn đầu tư. Tình trạng thiếu điện, cắt điện kéo dài trong nhiều năm nhưng hàng chục dự án nhà máy điện của Tập đoàn điện lực VN chậm tiến độ, ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế và cuộc sống người dân. Dự án cầu Thanh Trì và tuyến phía nam vành đai 3 Hà Nội, với tổng vốn đầu tư 7.660 tỷ đồng, do chậm trễ nhiều tháng, tính toán sơ bộ mỗi ngày chậm phải trả 1,5 tỷ đồng lãi vay. Cầu xây xong nhưng đến nay, 2 đường dẫn lên cầu chưa hoàn thành nên phải tốn thêm chục tỷ đồng để làm đường tạm thông xe ngày 2/2/2007.

Bên cạnh đó, những công trình nhóm A từ khi xin chủ trương tới khi thi công mất tới 4 năm. Thêm 5-7 năm thi công nữa là phải mất hơn 10 năm mới đi vào hoạt động. Còn đối với dự án nhóm C, cả nước có 13.000 dự án sử dụng vốn ngân sách, mỗi dự án mất 2 năm thủ tục thì thử tính xem lãng phí bao nhiều thời gian, hiệu quả đồng vốn?

Nguyễn Thành


Ý kiến của bạn