Với chủ đề: "Cập nhật những kiến thức tiến bộ về hỗ trợ sinh sản khu vực miền núi phía Bắc", các chuyên gia đã cập nhật nhiều kiến thức hỗ trợ sinh sản cũng như tương lai của kỹ thuật này.
Hội nghị khoa học có sự tham gia của các chuyên gia đầu ngành: GS.TS Nguyễn Viết Tiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế, Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam; ông Đinh Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Bà mẹ - Trẻ em, Bộ Y tế... cùng các thầy thuốc đến từ các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa sản nhi tuyến tỉnh, khu vực phía Bắc từ Nghệ An trở ra, lãnh đạo các đơn vị y tế trong tỉnh Lào Cai.

Bệnh viện Sản Nhi Lào Cai đã đón ca sinh thụ tinh ống nghiệm (IVF) đầu tiên với sự chuyển giao kỹ thuật từ PGS.TS.BS Vũ Văn Tâm, Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng.
Tại hội nghị, PGS.TS.BS Vũ Văn Tâm, Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng, đã trình bày báo cáo với chủ đề "Cá thể hóa kích thích buồng trứng với Follitropin Delta - dữ liệu nghiên cứu từ RCT đến RWE". Báo cáo phân tích sâu các bằng chứng khoa học từ thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên (RCT) đến dữ liệu thực tế (RWE), làm rõ vai trò của cá thể hóa phác đồ kích thích buồng trứng trong nâng cao hiệu quả điều trị, giảm nguy cơ quá kích buồng trứng và tối ưu hóa tỷ lệ thành công của thụ tinh trong ống nghiệm (IVF).
Theo PGS.TS.BS Vũ Văn Tâm, cá thể hóa điều trị không chỉ là xu hướng tất yếu của y học hiện đại mà còn đặc biệt phù hợp với điều kiện triển khai IVF tại các địa phương, nơi cần tối ưu nguồn lực nhưng vẫn bảo đảm an toàn và hiệu quả cho người bệnh.
Bên cạnh đó, BS CKI Nguyễn Đức Huân, Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Lào Cai, Bệnh viện Sản Nhi Lào Cai đã trình bày báo cáo về kết quả triển khai kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm tại địa phương. Báo cáo cho thấy, sau khi được Bộ Y tế thẩm định và cho phép thực hiện IVF, Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Lào Cai đã từng bước làm chủ quy trình kỹ thuật, triển khai điều trị an toàn, đúng quy định và đạt kết quả tích cực. Cụ thể, ngày 7/1 vừa qua, bệnh viện đã đón bé trai đầu tiên từ IVF. Tính đến hết năm 2025, Bệnh viện Sản Nhi Lào Cai đã chuyển phôi IVF cho 62 trường hợp, trong đó 38 ca chuyển phôi đã có thai, đạt 61,2%.
Theo BS Nguyễn Đức Huân, việc triển khai IVF ngay tại tỉnh đã giúp nhiều cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn, đặc biệt là người dân vùng cao, vùng xa, giảm đáng kể chi phí đi lại, ăn ở và áp lực tâm lý trong quá trình điều trị. Đây là yếu tố có ý nghĩa rất lớn đối với các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, trước đây gần như không có điều kiện tiếp cận các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản chuyên sâu.
Tại hội nghị, Th.S. BS Nguyễn Việt Quang, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia, Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã trình bày báo cáo: "Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hiện tại và tương lai". Báo cáo hệ thống hóa các kỹ thuật đang được áp dụng phổ biến, đồng thời phân tích xu hướng phát triển của hỗ trợ sinh sản trong thời gian tới, như tối ưu hóa nuôi cấy phôi, ứng dụng công nghệ mới trong đánh giá chất lượng phôi, cá thể hóa điều trị dựa trên đặc điểm sinh học của từng cặp vợ chồng.
Theo Th.S.BS Nguyễn Việt Quang, với sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ và chiến lược đầu tư đúng hướng, nhiều kỹ thuật trước đây chỉ triển khai được tại các trung tâm lớn hoàn toàn có thể được chuyển giao, làm chủ tại tuyến tỉnh, trong đó có các địa phương miền núi. Điều quan trọng là xây dựng đội ngũ nhân lực vững chuyên môn, tuân thủ nghiêm ngặt quy trình và thường xuyên cập nhật kiến thức mới.
Phát biểu tại hội nghị, BSCKII Trần Hoài Bắc, Giám đốc Bệnh viện Sản Nhi Lào Cai khẳng định, việc tổ chức các hội nghị khoa học chuyên sâu không chỉ nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ y bác sĩ địa phương, mà còn thể hiện quyết tâm của ngành y tế tỉnh trong việc từng bước đưa các kỹ thuật cao về phục vụ người dân ngay tại chỗ. Đây là hướng đi phù hợp với chủ trương phát triển y tế chuyên sâu gắn với y tế cơ sở, bảo đảm công bằng trong tiếp cận dịch vụ y tế.
Hội nghị cũng là dịp để các cơ sở y tế tuyến tỉnh khu vực phía Bắc tăng cường kết nối, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn trong triển khai hỗ trợ sinh sản, từ đó hình thành mạng lưới chuyên môn chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau trong điều trị các ca bệnh khó, phức tạp.
Với những nội dung khoa học cập nhật, sát thực tiễn và định hướng rõ ràng, hội nghị được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng điều trị vô sinh, hiếm muộn tại khu vực miền núi phía Bắc, mở ra thêm cơ hội "tìm con" cho nhiều gia đình, đồng thời khẳng định vai trò ngày càng rõ nét của y tế tuyến tỉnh trong làm chủ các kỹ thuật cao.
