Cảnh báo thảm họa thần tượng sao Việt (Kỳ 1)

Văn hóa – Giải trí
Có thể do áp lực từ các phương tiện truyền thông và các trang mạng cá nhân bùng nổ một cách vô tội vạ, nhiều khi nằm ngoài tầm kiểm soát của các cơ quản lý về văn hóa khiến người ta xem mãi, nghe mãi chữ “sao” rồi cũng trở thành một thói quen vô thức.

Kỳ 1: Sao Việt cần được tôn vinh

(SKDS) - Có thể do áp lực từ các phương tiện truyền thông và các trang mạng cá nhân bùng nổ một cách vô tội vạ, nhiều khi nằm ngoài tầm kiểm soát của các cơ quản lý về văn hóa khiến người ta xem mãi, nghe mãi chữ “sao” rồi cũng trở thành một thói quen vô thức. Thế nhưng, trong thực tế, đã mấy ai nghĩ đến bản chất của “sao” là thế nào và những hệ lụy của nó?

Những vì sao sáng cùng năm tháng

Có lẽ từ “sao” chỉ được dùng trong giới nghệ thuật và giải trí, thường được dùng để chỉ những tài năng xuất chúng trong lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp của một diễn viên, ca sĩ, người mẫu, hoa hậu, á hậu... được giới chuyên môn đánh giá cao và công chúng đón nhận như một lẽ tự nhiên, không cần và không có chuyện PR cho tên tuổi, nghệ hiệu hay tài năng cá nhân của mình.

Trước đây, trong điều kiện vô cùng khó khăn, nền nghệ thuật nước nhà đã sản sinh ra biết bao ngôi sao sáng chói. Đấy là các nghệ sĩ của thế hệ vàng như: Quý Dương, Trần Hiếu, Trung Kiên, rồi đến Lê Dung, Thu Hiền, Doãn Tần, Quang Thọ hay Thế Anh, Trà Giang, Lâm Tới, Phi Nga rồi đến Lê Khanh, Như Quỳnh, Lan Hương... Chính họ là niềm tự hào cho những ai gắn đời mình với sự nghiệp nghệ thuật.

Thế hệ các anh, các chị lúc bấy giờ làm gì có phương tiện truyền thông hiện đại và mau lẹ như bây giờ để đánh bóng nghệ hiệu của mình. Họ cứ hát và cứ diễn hết mình ngay cả trong đói khổ và đạn bom chiến tranh. Tôi có thể quả quyết rằng những người vừa nhắc tên trên đây hầu như ít nhất một lần đã vào tuyến lửa Vĩnh Linh, khu IV, chiến trường miền Nam hay các trận địa pháo ở miền Bắc, các tỉnh biên giới Tây Nam và phía Bắc để đem lời ca tiếng hát, vai diễn phục vụ đồng bào, đồng chí mình đang ngày đêm chiến đấu vì nền độc lập tự do của Tổ quốc. 

Làm gì họ có quyền ăn ngon mặc đẹp, mặc cả cat-sê, so hơn tính thiệt, lựa chọn vai diễn như bây giờ.

 Nghệ sĩ Nhân dân Thu Hiền - Một ngôi sao sáng hết mình cho âm nhạc Việt Nam.

Cần tôn vinh hơn nữa

Có một sự thật hiển nhiên là các ngôi sao ca nhạc và sân khấu thuộc thế hệ vàng trước đây không biết mình trở thành sao bao giờ và bằng cách nào, thậm chí họ không cả biết đến khái niệm “sao” như vài năm trở lại đây. Chỉ biết rằng dù bất cứ trong hoàn cảnh nào họ vẫn không bao giờ để nguội tắt ngọn lửa đam mê cái nghề mà mình đã chọn. Sự vô tư đến mức “bất sở cầu” trong suốt cuộc đời hoạt động nghệ thuật của các anh, các chị dường như là điều chỉ thấy ở thế hệ ngày xưa. Hát và diễn là một phần tất yếu trong cuộc sống của họ, chứ không hề có những suy tính ngoài nghệ thuật. Những vai diễn của các NSND Trà Giang, Thế Anh, Lê Khanh, Lan Hương và giọng ca của các NSND Trần Hiếu, Quý Dương, Trung Kiên, Lê Dung, Thu Hiền, Doãn Tần... từ lâu và cho đến tận bây giờ vẫn in đậm trong lòng biết bao thế hệ công chúng Việt Nam.

Một chị Tư Hậu trong phim cùng tên chuyển thể từ tác phẩm Một chuyện chép ở bệnh viện của nhà văn Bùi Đức Ái (Anh Đức), đạo diễn Phạm Kỳ Nam, sản xuất 1962, đến cô Dịu trong Vĩ tuyến 17 ngày và đêm, biên kịch Hoàng Tích Chỉ, đạo diễn NSND Hải Ninh, công chiếu vào năm 1972 đều do NSND Trà Giang vào vai chính hay một trung úy Phương trong Nổi gió của Đào Hồng Cẩm, bác sĩ Hải trong Đôi mắt, Ba Duy trong phim Mối tình đầu, Dư trong phim Đường về quê mẹ do NSND Thế Anh đóng; NSND Lê Khanh với Ni cô Đàm Vân trong vở kịch cùng tên Ni cô Đàm Vân, vai tu sĩ Băng Thanh trong phim Nữ tu sĩ Băng Thanh hay một em bé Hà Nội trong phim cùng tên của đạo diễn Hải Ninh, vai chị cả trong Nhà có ba chị em gái do NSND Lan Hương đóng... đã khiến công chúng của một thời ngẩn ngơ đến nao lòng vì sự hóa thân của người nghệ sĩ trong những nhân vật mà mình đảm nhận. 

Về lĩnh vực ca nhạc, Quý Dương với các ca khúc bất hủ như Tình ca của Hoàng Việt, Cùng anh tiến quân trên đường dài, Tình em của Huy Du, Bài ca bên cánh võng của Nguyên Nhung; NSND Trần Hiếu với Con voi của Nguyễn Xuân Khoát, Hò kéo pháo của Hoàng Vân, Lãnh tụ ca của Lưu Hữu Phước, Tôi là Lê Anh Nuôi, Anh quân bưu vui tính của Đàm Thanh; NSND Trung Kiên với Chào sông Mã anh hùng của Xuân Giao, Gặp nhau trên đỉnh Trường Sơn của Hoàng Hà; NSND Doãn Tần với Việt Nam trên đường chúng ta đi của Huy Du; NSND Thu Hiền với Tình trong lá thiếp của Phan Huỳnh Điểu, Bài ca hy vọng của Văn Ký... khiến phần đông những người sinh ra trước thời kỳ đổi mới, năm 1987, yêu thích âm nhạc không thể không nhớ giai điệu và không thuộc một vài câu nào đấy trong các ca khúc trên.  

Những vai diễn, các ca khúc của các anh, các chị thời ấy phải tự “mò mẫm” tìm đường đến với công chúng và đồng nghiệp. Họ làm gì có trailer, poster hay băng-rôn, clip cùng với nhiều bài báo giật tít nóng bỏng như bây giờ. Với họ, chỉ có hát và diễn hết mình theo tiếng gọi của trái tim và tình yêu nghệ thuật, còn thành “sao” hay không họ nào đâu có bận tâm. Có lẽ chính vì điều ấy mà họ mãi được đồng nghiệp và công chúng ngưỡng mộ và tôn vinh như một giá trị nghệ thuật đích thực. Và chắc chắn rằng lịch sử nghệ thuật nước nhà mãi ghi danh những vì sao chói sáng một cách vô tư như thế.

Tuy nhiên, đối với thế hệ vàng nói trên, đồng nghiệp và công chúng chỉ dừng lại ở mức độ ngưỡng mộ và tôn vinh những giá trị nghệ thuật đích thực mà họ đã cống hiến cho công chúng. Suốt nhiều năm có khi đến cả nửa thế kỷ cống hiến cho nghệ thuật, họ tuyệt nhiên không bao giờ bị trở thành hình mẫu duy nhất cho một ai đó của thế hệ sau phải sùng bái, tôn thờ và phát cuồng lên. Không biết đấy có phải là giá trị thực của nghệ thuật hay thời trước người ta thờ ơ, không “sung” như bây giờ?

 Kỳ II: Thảm họa từ tôn vinh đến fan cuồng

  Hạ Lang


Ý kiến của bạn