Một di sản thiên nhiên hay văn hóa ở bất kỳ quốc gia nào được UNESCO công nhận không chỉ là niềm tự hào của người dân địa phương mà còn là của chung toàn nhân loại. Nhưng chẳng có niềm tự hào hay vinh quang nào lại không gắn liền với trách nhiệm của mỗi người dân cũng như chính phủ các quốc gia có di sản được tôn vinh. Vinh quang càng lớn thì trách nhiệm càng nặng nề. Tuy nhiên, hiện nay, có quá nhiều vấn đề đặt ra đối với phong trào “trăm hoa đua nở” của các địa phương ở nước ta đang chạy đua danh hiệu di sản.
Cuộc marathon danh hiệu di sản
Trong thời gian gần đây, cứ một vài năm nước ta lại đón nhận danh hiệu di sản thế giới do UNESCO trao. Đến nay, nước ta đã có kỳ quan thế giới là Vịnh Hạ Long, một di sản thiên nhiên Phong Nha - Kẻ Bàng, 3 di sản vật thể là Quần thể di tích Cố đô Huế, Hoàng thành Thăng Long và gần đây nhất là Thành nhà Hồ, còn lại là các di sản phi vật thể gồm: Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Dân ca Quan họ, Ca trù, Hát xoan Phú Thọ.
![]() Nhã nhạc cung đình Huế. |
Tuy nhiên, chắc chắn là số lượng di sản của nước ta chưa dừng lại ở đó. Minh chứng là tính đến cuối năm 2011, đã có hơn 10 địa phương đã, đang xúc tiến quá trình lập hồ sơ trình UNESCO công nhận di tích, danh thắng ở địa phương mình là Di sản thế giới. Hiện có 2 di sản đã được Chính phủ Việt Nam đăng ký bước đầu với UNESCO từ năm 1997 là thắng cảnh Hương Sơn thuộc tỉnh Hà Tây cũ và Bãi đá cổ có chạm khắc ở Sa Pa thuộc tỉnh Lào Cai. Nhưng đến nay, cả hai địa phương này vẫn chưa triển khai được hồ sơ chính thức trình UNESCO. Xem ra cứ cái đà này, các địa phương tự biến mình thành những vận động viên chạy marathon trong việc lập hồ sơ di sản. Xét một cách nghiêm túc, di sản văn hóa không thể lựa chọn theo cách làm phong trào. Di sản văn hóa là chứng nhân lịch sử của một vùng đất, một cộng đồng dân tộc, một quốc gia. Nó tiềm ẩn trong mình những giá trị đã được thử thách qua thời gian với bao biến cố tự nhiên và lịch sử.
Các nhà khoa học khuyến cáo phong trào lập hồ sơ xin được UNESCO công nhận di sản của các địa phương bao giờ cũng là con dao hai lưỡi. Nếu được công nhận di sản thì địa phương ấy có thêm một địa chỉ văn hóa tin cậy để phát triển ngành công nghiệp không khói. Nhưng vì chạy theo lợi nhuận kinh tế trước mắt, không ít địa phương trở thành tội đồ của di sản bằng việc trùng tu bừa bãi không căn cứ trên cơ sở khoa học, khai thác du lịch thái quá làm ô nhiễm môi trường, dẫn đến di sản bị biến dạng khiến khách du lịch cả trong và ngoài nước không mấy thiện cảm khi đến tham quan các di sản này. Mặt khác, quy trình xét duyệt của UNESCO dựa trên các tiêu chí khoa học rất chặt chẽ, chứ không xét theo phong trào, nên không có chuyện là bất kỳ bộ hồ sơ nào trình lên cũng được họ công nhận ngay, dù để hoàn thành bộ hồ sơ di sản, địa phương phải bỏ ra một khoản tiền không nhỏ cho công tác điều tra, tư vấn, hội thảo khoa học, xin ý kiến của các chuyên gia nước ngoài.
Theo đánh giá của các nhà khoa học về địa lý, địa chất và khảo cổ, quần thể hang động sinh thái Tràng An, Ninh Bình rộng khoảng 1.566ha, thuộc địa phận 6 xã, phường của 2 huyện Hoa Lư, Gia Viễn và TP. Ninh Bình - được coi là “Vịnh Hạ Long trên cạn” vì có giá trị địa chất, địa mạo và cảnh quan thiên nhiên hết sức đa dạng. Nắm được cơ hội này, năm 2008, lãnh đạo tỉnh Ninh Bình phê duyệt dự án Khu du lịch sinh thái (KDLST) Tràng An rộng 2.168ha, trong đó có phần lớn khu hang động Tràng An. Dự án do Doanh nghiệp xây dựng Xuân Trường làm chủ đầu tư. Đến nay, công việc nạo vét cơ bản hoàn thành và đã đón khách tham quan.
Tuy nhiên, để thuận lợi cho việc phát triển, khai thác du lịch, các hang động ở Tràng An ít nhiều đã bị làm biến dạng, thậm chí có nơi bị “xẻ thịt” để phục vụ cho mục đích kinh tế trước mắt. Hiện có 11 hang đã được Công ty Trường Xuân sửa chữa cơi nới, chủ yếu là ở phần vòm và cửa để thuận tiện cho tàu thuyền ra vào hang động. Còn lại 37 hang động vẫn được giữ nguyên hiện trạng.
Các nhà khoa học khuyến cáo giữ nguyên hiện trạng tất cả trước khi đệ trình hồ sơ lên UNESCO xin công nhận Di sản thiên nhiên thế giới. Tuy nhiên, điều đó đã bị lãnh đạo địa phương và doanh nghiệp bỏ ngoài tai, mặc dù họ vẫn kiên trì theo đuổi mục tiêu Di sản thiên nhiên thế giới của quần thể hang động Tràng An.
![]() Động Thiên Đường - Phong Nha, Kẻ Bàng. |
Công nhận di sản để bảo tồn hay cưỡng bức?
Không biết nhận thức về di sản văn hóa như thế nào mà sau khi Quan họ được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, người ta đã tổ chức một tập thể hát quan họ lên tới 3.700 người nhằm xác lập kỷ lục Guinness Việt Nam. Chưa hết, người ta còn sáng tạo ra con số 2.012 người ứng với năm 2012 để hát quan họ tập thể. Đây quả thực là một “kỷ lục” chưa từng có trong lịch sử quan họ. Hát quan họ từ xa xưa chủ yếu gắn liền với những hoạt động sống của mỗi người, từng gia đình và cộng đồng. Liền anh, liền chị xưa đi hát với nhau hoàn toàn tự nguyện, dù có “rủ rê”, nhưng không ai có quyền ép buộc và cũng không cần đến bàn tay đạo diễn của chính quyền địa phương.
Không gian Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Nhưng chúng ta thử tưởng tượng xem một ngày nào đó nạn chảy máu cồng chiêng ở Tây Nguyên không được ngăn chặn thì cái không gian văn hóa ấy sẽ chỉ là những bãi cỏ hoang khi không còn tiếng cồng chiêng vang vọng từ đấy. Ngay sau khi được UNESCO công nhận đã có không ít buôn làng trở thành địa chỉ trắng cồng chiêng. Nhà nước đã bỏ ra một lượng tiền của không nhỏ để đúc cồng chiêng tặng cho một số buôn làng nhằm bù đắp vào chỗ thiếu hụt do người dân trót lỡ bán đi trước đó. Khi cồng chiêng không còn thì liệu cái không gian văn hóa cồng chiêng ấy có còn để chính quyền và người dân Tây Nguyên tự hào với danh hiệu mà UNESCO đã trao tặng?
Hai di sản là Nhã nhạc Cung đình Huế và Hát xoan Phú Thọ đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Nhưng thay vì chưa kịp phục hồi những làn điệu cổ như vốn có thì người ta đã bức tử nó bằng cách “giao hưởng hóa” nhã nhạc, biến nó thành nhạc phương Tây hiện đại. Còn Hát xoan Phú Thọ lại được “chèo hóa” trong các buổi biểu diễn gần đây tại các nhà hàng, khách sạn hay những nơi sinh hoạt văn hóa công cộng.
Còn tại quần thể di tích Cố đô Huế sau khi được UNESCO công nhận, Nhà nước cũng đã đầu tư gần 600 tỉ đồng để làm... “mới hẳn” 100 công trình. Mái ngói cổ được thay bằng ngói mới. Còn cột, kèo, xà, kẻ, phù điêu... đều được khoác lên mình một bộ cánh sơn lòe loẹt, mới toanh. Thậm chí có những họa tiết hoa văn cổ đã được các cánh thợ “sáng tạo” bằng việc cắt bỏ đi cho khỏi “rườm rà” tốn nhiều công...
Trong nhiều lĩnh vực, người ta đua nhau lập thành tích bằng những kỷ lục mới, hiện nay đang có một cuộc đua marathon ngầm giữa các địa phương nhằm xác lập những kỷ lục mới trong công tác trùng tu tôn tạo theo kiểu làm mới di sản với kinh phí nhiều chục, nhiều trăm tỉ đồng tiền ngân sách Nhà nước và tiền thuế của dân. Có lẽ cũng vì thế mà không ít địa phương thi nhau lập hồ sơ di sản những mong UNESCO công nhận để có thêm cơ hội phát triển kinh tế du lịch và được Nhà nước đầu tư những khoản tiền lớn để... “làm mới” di sản. Tư duy về phát triển kinh tế bằng mọi giá thực sự đã tạo nên hội chứng di sản tại một số địa phương hiện nay rất đáng báo động.
Bạch Dương

