Cần nhận thức đầy đủ để phòng bệnh do thiếu hụt iod

Thời sự
Iod là một vi chất dinh dưỡng, mặc dù chỉ cần một lượng rất nhỏ nhưng lại rất cần thiết cho sự phát triển cơ thể.

Iod là một vi chất dinh dưỡng, mặc dù chỉ cần một lượng rất nhỏ nhưng lại rất cần thiết cho sự phát triển cơ thể. Trước thực trạng nguy cơ cao quay trở lại của các bệnh liên quan tới rối loạn chuyển hóa do thiếu hụt iod, chúng tôi đã trao đổi với TS. Nguyễn Văn Tiến - Giám đốc Bệnh viện Nội tiết Trung ương về vấn đề này.

PV: Xin TS cho biết sự thiếu hụt iod đối với sức khỏe con người như thế nào?

 TS. Nguyễn Văn Tiến.
TS. Nguyễn Văn Tiến: Bướu cổ và đần độn là hai biểu hiện hay gặp nhất liên quan đến thiếu iod. Bướu cổ có thể xuất hiện ở bất kỳ giai đoạn nào trong cuộc đời, trong khi đó, đần độn xuất hiện ngay từ lúc bào thai nếu người mẹ bị thiếu iod nặng. Các biểu hiện này chỉ là phần nổi của tảng băng chìm, vì thế thuật ngữ "Các rối loạn thiếu iod" mô tả đầy đủ hơn tác hại do thiếu iod như: các khuyết tật về thần kinh, tâm thần, suy giảm hoạt động chức năng hệ thần kinh, giảm sự phát triển hệ thần kinh của bào thai, trẻ nhỏ.

Trẻ em và phụ nữ tuổi sinh đẻ là đối tượng có nguy cơ cao bị thiếu iod, hậu quả do thiếu iod ở đối tượng này là rất nghiêm trọng, vì hormon cần thiết giúp cho sự phát triển của bào thai và sau đẻ. Hơn nữa sự hư hại hệ thần kinh ở bào thai và trẻ nhỏ do thiếu iod nặng và kéo dài là hậu quả không thể đảo ngược được.

PV: Năm 2005, Chương trình quốc gia phòng chống rối loạn chuyển hóa do thiếu hụt iod (PCCRLTI) đã tuyên bố với thế giới là thanh toán PCCRLTI trên phạm vi toàn quốc. Xin ông cho biết rõ hơn về quá trình hoạt động cũng như kết quả đạt được.

TS. Nguyễn Văn Tiến: Năm 2005, Việt Nam đã công bố hoàn thành mục tiêu thanh toán CRLTI trên phạm vi toàn quốc với các chỉ tiêu đề ra như mức trung vị iod niệu trên 100mcg/l, độ bao phủ muối iod đạt tiêu chuẩn phòng bệnh trên 90%, tỷ lệ bướu cổ trẻ em 8-10 tuổi dưới 5%. Đạt được thành tích trên chính là nhờ có sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo Bộ Y tế và sự hoạt động tận tình của Ban điều hành Dự án PCCRLTI.

Ngay từ năm 1994, thực hiện Chỉ thị 481/TTg của Thủ tướng Chính phủ, Bệnh viện Nội tiết đã chỉ đạo các tỉnh xây dựng mạng lưới PCCRLTI trong phạm vi toàn quốc, các tỉnh đều có Ban điều hành dự án, các đơn vị hoạt động dự án trực thuộc Sở Y tế. Công tác giám sát muối iod tại các cơ sở sản xuất được theo dõi thường xuyên, hệ thống sản xuất muối được đẩy mạnh, công tác truyền thông luôn được quan tâm đúng mức và đặc biệt kinh phí hoạt động PCCRLTI được Nhà nước cấp đầy đủ, kịp thời trong giai đoạn này. Hơn thế nữa các tổ chức quốc tế như CEMUBAC của Vương quốc Bỉ, Dự án của Úc, UNICEF đã giúp chương trình rất kịp thời về kinh phí và kĩ thuật.

PV: Vậy từ sau 2005 đến nay, khi Chương trình quốc gia PCCRLTI chuyển từ hoạt động chương trình mục tiêu sang hoạt động thường xuyên thì tình hình CRLTI trên toàn quốc ra sao, thưa ông?

TS. Nguyễn Văn Tiến: Ngay sau 2005, Chương trình quốc gia PCCRLTI chuyển mục tiêu hoạt động sang chương trình hoạt động thường xuyên có nghĩa là không còn là Chương trình Quốc gia nữa, toàn bộ các hoạt động của dự án tại các tỉnh hoàn toàn do ngân sách tỉnh cấp. Bệnh viện Nội tiết được giao là đơn vị giúp Bộ Y tế kiểm soát về chuyên môn. Do nhận thức của một số nơi khác nhau nên giai đoạn này công tác PCCRLTI đạt kết quả không cao, không thể hoàn thành mục tiêu duy trì bền vững. Phần vì cơ chế, phần vì hướng dẫn chi cho các hạng mục chương trình thường xuyên không đủ nên một số nơi không thể giải ngân kinh phí tỉnh cấp ảnh hưởng đến công tác duy trì các hoạt động PCCRLTI tại các tỉnh.

Kinh phí Bộ Y tế cấp cho Bệnh viện Nội tiết cũng chỉ đủ đáp ứng  70% lượng KIO3 để sản xuất muối iod và một số hoạt động giám sát chất lượng muối iod. Các hoạt động khác gần như không có kinh phí triển khai.

Một số nơi như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ, tỷ lệ bao phủ muối iod giảm, mức trung vị iod niệu cũng giảm, nguy cơ thiếu iod tái diễn xảy ra ở những vùng này khó tránh khỏi. Thiếu iod sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến bà mẹ và trẻ em. Đây là đối tượng có nguy cơ cao trong cộng đồng.

PV: Ông đánh giá vì sao hoạt động này lại không mang lại hiệu quả?

TS. Nguyễn Văn Tiến:

- Nhận thức: Chúng ta chủ quan, xem nhẹ tác hại thiếu iod đối với cộng đồng.

- Sớm thoả mãn thành tích đã đạt được.

- Công tác chuyển đổi các hoạt động chưa được chuẩn bị kỹ lưỡng.

- Nghị định 163/CP của Chính phủ thay thế Nghị định 19/CP bỏ nội dung: “Muối ăn phải là muối iốt” làm ảnh hưởng đến nhận thức của một số cán bộ và hoạt động PCCRLTI ở phạm vi toàn quốc từ đó làm ảnh hưởng đến công tác PCCRLT, đặc biệt là sự quan tâm của các cấp, ngành.

PV: Trước tình hình đó, Bệnh viện Nội tiết có kế hoạch gì để PCCRLTI đạt được mục tiêu như trước đây và cao hơn thế, thưa ông?

TS. Nguyễn Văn Tiến: Giai đoạn này mục tiêu của dự án là duy trì bền vững, tuy nhiên để đạt được mục tiêu này cần có nhiều giải pháp:

- Tổ chức: Nên có một Ban điều hành dự án tại Bộ Y tế để điều hành chung các hoạt động, BVNT là cơ quan tham mưu giúp Bộ Y tế triển khai các hoạt động.

- Việc PCCRLTI lâu dài, thường xuyên nên kinh phí đầu tư đủ để cung cấp KIO3, đẩy mạnh hoạt động truyền thông và một vài hoạt động khác.

- Nghị định 163/CP cần được bổ sung nội dung và quy định cụ thể muối ăn phải là muối iod.

- Đưa chỉ tiêu sử dụng muối iod đạt tiêu chuẩn phòng bệnh thành chỉ tiêu pháp lệnh bắt buộc như các chỉ tiêu kinh tế, văn hóa, xã hội của Quốc hội, yêu cầu thông qua Hội đồng nhân dân các cấp đưa ra thành nghị quyết của từng địa phương. Đồng thời kiến nghị Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ này cho Chủ tịch UBND các tỉnh.

- Đẩy mạnh hoạt động truyền thông.

- Xã hội hoá chương trình, vận động nhiều bộ/ngành, cộng đồng tham gia.

PV: Xin cảm ơn TS!

Thu Hà (thực hiện)


Ý kiến của bạn