Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện Nghị định số 238/2025/NĐ-CP do Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố năm 2026 đã ghi nhận nhiều kết quả tích cực trong việc giao quyền tự chủ tài chính cho các cơ sở giáo dục đại học.
Tuy nhiên, kết quả khảo sát cũng phản ánh khối ngành sức khỏe hiện có mặt bằng chi phí đào tạo thực tế thuộc nhóm cao nhất, tạo áp lực lớn lên vận hành của các cơ sở đào tạo y dược và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần có cơ chế tài chính linh hoạt, phù hợp hơn.
Áp lực tài chính từ đặc thù đào tạo y khoa lâm sàng
Do đặc thù bắt buộc về thực hành lâm sàng tại bệnh viện, hệ thống cơ sở thực hành chuyên sâu, trang thiết bị y tế hiện đại, vật tư tiêu hao đắt đỏ cùng đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên môn cao, chi phí để đào tạo một sinh viên ngành Y - Dược cao hơn nhiều so với các nhóm ngành khác.
Đối với các cơ sở giáo dục đại học chưa tự bảo đảm chi thường xuyên, khoảng cách giữa học phí và chi phí đào tạo thực tế ở khối ngành sức khỏe hiện đang ở mức lớn nhất toàn hệ thống. Mặc dù mức thu học phí đã chạm trần hoặc vượt trần quy định, nguồn thu học phí thực tế thu được mới chỉ đáp ứng từ 68,6% đến 70,8% chi phí đào tạo. Tính toán cho thấy chi phí đào tạo thực tế cao gấp từ 2,02 đến 2,14 lần, tương đương 202,3% đến 214,3% so với mức trần học phí do Nhà nước quy định.
Để tính đúng và tính đủ chi phí đào tạo, nhiều chương trình thuộc các ngành Y khoa, Răng - Hàm - Mặt, Điều dưỡng và Kỹ thuật y học đòi hỏi mức học phí cao gấp từ 2 đến hơn 4 lần so với mức trần quy định tại Nghị định số 238/2025/NĐ-CP.



Bảng tổng hợp các chỉ tiêu học phí và chi phí đào tạo theo tình trạng kiểm định và mức độ tự chủ tài chính của các cơ sở giáo dục đại học (Nguồn: Báo cáo thực hiện Nghị định số 238/2025/NĐ-CP).
Khoảng cách tài chính không chỉ ở các chương trình kiểm định
Theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 238/2025/NĐ-CP, các chương trình đào tạo đã được kiểm định chất lượng theo tiêu chuẩn trong nước hoặc quốc tế như AUN-QA, ASIIN, AQAS hay CTI được quyền xác định mức học phí trên cơ sở định mức kinh tế - kỹ thuật và chi phí đào tạo thực tế.
Kết quả khảo sát trên 988 chương trình đào tạo cho thấy có 500 chương trình đã kiểm định, chiếm 50,6%, và 488 chương trình chưa kiểm định, chiếm 49,4%. Kiểm định chất lượng đồng nghĩa với việc gia tăng nhu cầu nguồn lực đầu tư về đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, thực hành và chuẩn đầu ra. Điều này khiến hầu hết các trường hợp áp dụng mức học phí vượt trần ở khối trường tự chủ đều tập trung ở các chương trình đã kiểm định theo đúng cơ chế đặc thù quy định.
Tuy nhiên, việc tách riêng các chương trình đã kiểm định không làm thay đổi đáng kể kết luận chung của khảo sát. Ngay cả đối với các chương trình chưa kiểm định, đặc biệt tại các cơ sở giáo dục đại học chưa tự bảo đảm chi thường xuyên, vẫn tồn tại khoảng cách đáng kể giữa học phí và chi phí đào tạo thực tế. Điều này cho thấy những hạn chế của cơ chế học phí hiện nay không chỉ xuất phát từ cơ chế đặc thù áp dụng cho các chương trình đã kiểm định mà còn phản ánh thực tế rằng mức trần học phí hiện hành chưa theo kịp chi phí đào tạo của nhiều ngành đào tạo.
Bất cập trong phân nhóm ngành Bác sĩ Răng - Hàm - Mặt
Một nội dung từ thực tiễn triển khai Nghị định số 238/2025/NĐ-CP được các cơ sở đào tạo y dược phản ánh là việc phân nhóm học phí. Hiện nay, ngành Răng - Hàm - Mặt đang được xếp vào nhóm 6.1 cùng với các ngành Điều dưỡng, Hộ sinh, Dinh dưỡng, Kỹ thuật y học và Y tế công cộng, có mức trần học phí thấp hơn so với nhóm 6.2 gồm ngành Y học và Dược học.
Trong khi đó, chương trình đào tạo Bác sĩ Răng - Hàm - Mặt có khối lượng kiến thức chuyên môn, thời lượng thực hành lâm sàng, tiêu hao vật tư nha khoa đắt tiền và đòi hỏi hệ thống ghế máy, trang thiết bị chuyên sâu tương đương, thậm chí cao hơn ngành Y khoa.
Số liệu khảo sát tại Đại học Y Hà Nội cho thấy chi phí đào tạo thực tế bình quân của ngành Y khoa và Răng - Hàm - Mặt đạt 82,2 triệu đồng trên một sinh viên trong một năm. Mức học phí dự kiến tính đủ chi phí đào tạo ước tính là 191 triệu đồng một năm, tương đương 404,7% so với mức trần quy định.
Tương tự, tại Trường Đại học Y Dược - Đại học Huế, mức học phí tính đủ chi phí đào tạo ngành Răng - Hàm - Mặt dành cho khóa 2025-2031 là 64,9 triệu đồng một năm và khóa 2024-2030 là 60,1 triệu đồng một năm, tương đương từ 254,66% đến 275% so với trần quy định hiện hành.
Tác động từ chính sách tiền lương mới và giải pháp tài chính đồng bộ
Áp lực chi phí đào tạo khối ngành sức khỏe dự báo sẽ tiếp tục gia tăng mạnh trong thời gian tới do tác động của các chính sách tiền lương mới. Cụ thể, Nghị định số 182/2026/NĐ-CP quy định chế độ phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo và Nghị định số 161/2026/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở tăng từ 2,34 triệu đồng lên 2,53 triệu đồng một tháng, tương đương mức tăng khoảng 8%, làm gia tăng đáng kể chi phí đào tạo và quỹ lương nhân sự tại các cơ sở giáo dục đại học.
Nhằm bảo đảm nguồn lực duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực cho ngành y tế, Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu rõ các kiến nghị giải pháp mang tính tổng thể.
Trước hết, cần xem xét rà soát để điều chỉnh mức trần học phí ngành Bác sĩ Răng - Hàm - Mặt từ nhóm 6.1 sang nhóm 6.2 nhằm phản ánh đúng định mức kinh tế - kỹ thuật và chi phí đào tạo thực tế.
Đồng thời, Báo cáo đề xuất nghiên cứu cơ chế học phí riêng hoặc cơ chế xác định học phí linh hoạt hơn đối với các ngành có chi phí đào tạo cao như khối ngành sức khỏe, bảo đảm tính đúng, tính đủ chi phí đào tạo theo lộ trình phù hợp. Đối với các cơ sở chưa tự bảo đảm chi thường xuyên, việc xác định mức học phí cần được thực hiện theo nguyên tắc mức học phí bằng chi phí đào tạo thực tế trừ đi phần kinh phí được ngân sách nhà nước hỗ trợ.
Song song với việc hoàn thiện cơ chế học phí, Báo cáo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đồng bộ các chính sách hỗ trợ người học thông qua cơ chế cấp bù ngân sách, học bổng và tín dụng chính sách ưu đãi. Điều này bảo đảm sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, đối tượng chính sách vẫn có cơ hội tiếp cận giáo dục đại học y dược mà không bị rào cản tài chính cản trở, qua đó góp phần bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành y tế nước nhà.