Cần kiểm soát tốt bệnh sởi để đi đến đích

Thời sự
Những diễn biến phức tạp của bệnh sởi ở người lớn tại Hà Nội và nhiều tỉnh, thành phía Bắc trong thời điểm hiện nay khiến cộng đồng không khỏi lo lắng.

Những diễn biến phức tạp của bệnh sởi ở người lớn tại Hà Nội và nhiều tỉnh, thành phía Bắc trong thời điểm hiện nay khiến cộng đồng không khỏi lo lắng. Vậy nguyên nhân của hiện tượng này là gì, các biện pháp phòng chống như thế nào, bệnh sởi gia tăng có tác động đến mục tiêu loại trừ bệnh sởi vào năm 2010 của Việt Nam hay không? Phóng viên (PV) báo Sức khỏe & Đời sống đã có cuộc phỏng vấn PGS.TS. Phạm Ngọc Đính - nguyên Chủ nhiệm Chương trình tiêm chủng mở rộng (TCMR) khu vực phía Bắc về những vấn đề này.

PV: Thưa ông, ông nhận định như thế nào về tình hình bệnh sởi hiện nay ở các tỉnh phía Bắc và Hà Nội, đâu là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này?

 PGS.TS. Phạm Ngọc Đính.
PGS.TS. Phạm Ngọc Đính: Diễn biến của bệnh sốt phát ban ở người lớn đang xảy ra ở nhiều địa phương phía Bắc và Hà Nội với hàng trăm ca sởi dương tính. Độ tuổi mắc chủ yếu là từ 18-25 tuổi. Xét ở phạm vi quốc gia trong quá trình đi đến đích loại trừ bệnh sởi thì đó là tất yếu. Vì bất kỳ quốc gia nào cũng phải trải qua giai đoạn kiểm soát bệnh trước khi đi đến đích loại trừ. Giai đoạn này dài hay ngắn tùy thuộc vào khả năng của từng quốc gia. Trên thế giới có những nước trải qua thời gian này hàng thập kỷ. Ở Việt Nam, từ năm 2005, chúng ta mới bắt đầu đề cập đến loại trừ sởi, do vậy chúng ta đang trải qua giai đoạn kiểm soát bệnh, cho nên vẫn còn xuất hiện những vụ dịch mang tính địa phương.

Bệnh sởi lại xảy ra ở người lớn khi TCMR sử dụng vaccin sởi 20 năm qua vì những lý do sau:

Tỷ lệ tiêm chủng vaccin sởi ở trẻ em nước ta hằng tháng đạt 90- 95%, nghĩa là còn 5-10% không được tiêm, đây là những người thuộc lỗ hổng miễn dịch với sởi. Tỷ lệ này tích tụ từ năm này sang năm khác, tạo nên một số lượng đáng kể người chưa có miễn dịch. Trước đây, tiêm vaccin sởi chỉ một mũi duy nhất từ lúc trẻ 9 tháng tuổi, cho nên những người đã tiêm cách đây 15 năm, 20 năm thì đã bị suy giảm đáng kể độ miễn dịch, góp phần lớn vào lỗ hổng miễn dịch với sởi trong cộng đồng. Điều đó giải thích vì sao trong vụ dịch này có nhiều người mắc ở lứa tuổi từ 18-25. Mùa đông xuân là chu kỳ phát triển của các bệnh do virut, trong đó có sởi. Vì thế khi mà số người thuộc lỗ hổng miễn dịch sởi tích lũy qua thời gian 4-5 năm sẽ dẫn đến xuất hiện dịch.

Tỷ lệ tiêm chủng ở thành thị luôn đạt kết quả cao hơn nông thôn, miền núi. Đây là những vùng có lỗ hổng miễn dịch với sởi cao nên những người ở các vùng này khi về thành phố sinh sống, học tập gặp điều kiện có nguồn lây bệnh thì rất dễ bị lây bệnh, nhất là sinh viên. Hơn nữa, sốt phát ban không chỉ có sởi mà có nhiều bệnh khác như rubella, rất dễ nhầm lẫn với sởi nếu không xét nghiệm huyết thanh học. Rubella là bệnh rất dễ gây ra dịch trong khi chúng ta chưa có vaccin phòng bệnh trong TCMR.

PV: Xin ông cho biết những biện pháp cụ thể để ngăn ngừa bệnh sởi một cách hiệu quả nhất?

PGS.TS. Phạm Ngọc Đính: Cộng đồng cần phát hiện sớm những dấu hiệu của bệnh như: sốt, nổi ban diện rộng trên cơ thể, dạng hồng ban; ho, xuất tiết mũi, họng, viêm kết mạc. Nếu có những dấu hiệu này, cần đi khám và để nhân viên y tế làm xét nghiệm máu phân biệt với các dạng sốt phát ban khác. Thực hiện cách ly những trường hợp mắc với người lành vì bệnh có khả năng lây lan cao. Thời gian cách ly phải từ khi xuất hiện ban đỏ ít nhất là 1 tuần. Nên cách ly tại nhà, chỉ những trường hợp đặc biệt mới nên đến bệnh viện, vì bệnh dễ gây nhiễm khuẩn chéo. Cần có những biện pháp chăm sóc tốt về dinh dưỡng, vệ sinh để tránh bị biến chứng nguy hiểm như viêm phổi, viêm phế quản, viêm não. Chỉ dùng kháng sinh khi có bội nhiễm. Đặc điểm của virut gây bệnh sởi lây qua hô hấp, do vậy nên dùng khẩu trang khi tiếp xúc với người bệnh.

Khi người dân mắc bệnh đến khám tại các cơ sở y tế công hoặc tư nhân thì những nơi này cần báo cáo đầy đủ số lượng bệnh nhân cho y tế dự phòng để có điều tra cụ thể về tình hình dịch. 100% bệnh nhân nghi sởi cần được lấy máu xét nghiệm. Khi xác định có 1 ca bệnh dương tính với sởi thì cần tiêm vaccin sởi cho người dân ở địa bàn đó. Quy mô đối tượng được tiêm tùy vào nguy cơ lây lan của dịch bệnh, khả năng chi phí của từng địa phương. Theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì chỉ tiêm vaccin sởi khi phát hiện tỷ lệ miễn dịch trong cộng đồng đó thấp hơn 95%. Thực tế là năm 2006, các tỉnh như Lào Cai, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu có hàng nghìn người lớn mắc sởi, Chương trình TCMR quốc gia đã tiến hành tiêm vaccin cho những địa phương có các ca bệnh sởi và hoàn toàn dập tắt được dịch bệnh.

 Tiêm chủng vaccin sởi mũi 2 cho trẻ em tại Thái Nguyên.
PV: Bệnh sởi hiện nay có tác động đến mục tiêu loại trừ bệnh sởi vào năm 2010 của Việt Nam? Đâu là giải pháp hiệu quả để đi đến đích?

PGS.TS. Phạm Ngọc Đính: Nhìn nhận đối tượng mắc sởi hiện nay chủ yếu là người lớn (18- 25 tuổi) cho chúng ta thấy rằng hoạt động TCMR của chúng ta những năm qua đã thực hiện rất tốt, đã bảo vệ trẻ em dưới 15 tuổi được miễn dịch với căn bệnh này. Mặc dù trong quá trình đi đến mục tiêu loại trừ bệnh sởi vẫn phải chấp nhận xảy ra những vụ dịch nhỏ, song nếu không có những biện pháp dập dịch tích cực, hữu hiệu thì sẽ có những ảnh hưởng đến mục tiêu loại trừ sởi vào năm 2010. Những vụ dịch sởi xảy ra đã chỉ cho chúng ta thấy được những lỗ hổng miễn dịch trong cộng đồng để có những biện pháp xử trí kịp thời. Qua đó cũng phải có những đầu tư cần thiết hơn nữa để luôn nâng cao hiệu quả của dịch vụ tiêm chủng, đặc biệt về vấn đề bảo quản vaccin, kỹ thuật tiêm vaccin sao cho đúng nhất để mỗi mũi tiêm đạt hiệu quả miễn dịch tốt nhất.

Theo tiêu chuẩn của WHO, loại trừ bệnh sởi được công nhận khi chỉ có dưới 1 ca bệnh sởi xác định/1 triệu dân/1 năm. Muốn đi đến được kết quả này, TCMR cần duy trì và tăng cường tỷ lệ tiêm chủng thường xuyên vaccin sởi cho trẻ dưới 15 tháng tuổi đạt mức trên 95%. Trẻ 6 tuổi cần được tiêm nhắc lại vaccin sởi mũi 2, kịp thời tiêm vaccin sởi cho những người chưa có miễn dịch. Đồng thời phải tăng cường giám sát dịch tễ để phát hiện các ca sởi mới, bao gồm các dấu hiệu lâm sàng và cả giám sát bằng xét nghiệm huyết thanh học.

PV: Xin cảm ơn ông!

Hảo Lê(thực hiện)


Ý kiến của bạn