Cần có chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Thời sự
Bệnh đái tháo đường đang thực sự là mối quan ngại sâu sắc ở nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam.

Bệnh đái tháo đường đang thực sự là mối quan ngại sâu sắc ở nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Bên cạnh đó, đội ngũ thầy thuốc chuyên ngành hiện nay chưa đủ để đáp đáp ứng cho điều trị và triển khai thực hiện Dự án phòng chống căn bệnh này. Phóng viên báo SK&ĐS đã ghi lại các ý kiến xung quanh vấn đề nhân lực cho ngành nội tiết - đái tháo đường.

Mỗi bác sĩ phải làm việc 3 trong 1

BS. Nguyễn Văn Chính - Trưởng khoa Nội tiết, Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Lâm Đồng.
Hiện tại cả Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Lâm Đồng có 12 bác sĩ, khoa Nội tiết chúng tôi chỉ có 3 bác sĩ, 3 y sĩ, 1 dược sĩ và 1 kỹ thuật viên và phải triển khai đồng thời 3 hoạt động, đó là Dự án quốc gia phòng chống bệnh đái tháo đường; Dự án quốc gia phòng chống suy dinh dưỡng và hoạt động phòng chống các rối loạn thiếu hụt i-ốt. Do đó nguồn nhân lực của chúng tôi đang thiếu trầm trọng, mỗi bác sĩ phải kiêm nhiệm công việc 3 trong 1. Ngoài công tác khám bệnh thường xuyên, chúng tôi luôn phải đảm bảo các nhiệm vụ như công tác chỉ đạo tuyến; công tác khám sàng lọc bệnh nhân; khám chữa bệnh, quản lý bệnh nhân đái tháo đường... Một bác sĩ phải kiêm nhiệm rất nhiều công việc của cả 3 hoạt động, vì thế khi triển khai công việc, chúng tôi gặp không ít khó khăn.

Theo tôi, để đảm bảo thực hiện tốt các hoạt động và mục tiêu đề ra, riêng khoa nội tiết chúng tôi cần có từ 4-6 bác sĩ cho mỗi dự án, như vậy để thực hiện được cả 3 dự án cùng một lúc thì chúng tôi cần khoảng 15-16 bác sĩ. Chúng tôi rất mong được Sở Y tế bổ sung thêm bác sĩ về trung tâm và đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho các bác sĩ tuyến dưới để giúp chúng tôi chia sẻ và hoàn thành công việc được tốt hơn.

Nhân lực cho ngành nội tiết - đái tháo đường còn thiếu

TS. Lê Phong - Trưởng phòng chỉ đạo tuyến - BVNT Trung ương.
Bệnh đái tháo đường là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư ở các nước phát triển. Thực tế cho thấy, số bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường đến khám và điều trị tại các cơ sở khám chữa bệnh hầu hết đã có biến chứng như tổn thương võng mạc, biến chứng thần kinh, loét hoại tử chi, tổn thương thận... bởi bệnh nhân được khám và phát hiện muộn, hoặc do tình cờ điều trị bệnh khác rồi mới phát hiện ra bị mắc bệnh đái tháo đường. Vì sao vậy? Một trong các nguyên nhân có thể đề cập tới, đó là mạng lưới nhân lực cho chuyên ngành này còn thiếu và yếu. Hiện tại hệ thống tổ chức để quản lý bệnh nội tiết, đặc biệt là bệnh đái tháo đường trong toàn quốc gồm 2 tuyến trung ương và địa phương.

Tuyến Trung ương gồm có: Bệnh viện Nội tiết Trung ương; Ban điều hành Chương trình Quốc gia phòng chống bệnh đái tháo đường. Các bệnh viện hiện có khoa nội tiết: Bệnh viện Bạch Mai, Viện Quân y 103; Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Thống Nhất, Bệnh viện Nguyễn Tri Phương.

Tại địa phương hiện đang tồn tại song song hai hệ thống điều trị nội trú, ngoại trú và hệ thống dự phòng. Trong năm qua, hệ thống nội tiết tỉnh đã được củng cố. Trên cơ sở các trung tâm nội tiết đã có ba bệnh viện nội tiết tuyến tỉnh được thành lập, đã thành lập mới  hai  trung tâm nội tiết, một số tỉnh đã tách và cơ cấu, kiện toàn lại các khoa phòng điều trị và quản lý bệnh nội tiết dựa vào các khoa bướu cổ trước kia. Bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh hầu như không có khoa nội tiết riêng để quản lý bệnh nhân ĐTĐ và các rối loạn chuyển hóa.

Về đào tạo: hiện nay ngoại trừ Trường đại học Y - Dược TP.HCM, còn lại các Trường đại học Y - Dược trên toàn quốc đều chưa có bộ môn chuyên ngành đào tạo riêng về bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hoá. Nguồn lực bổ sung cho chuyên ngành nội tiết chủ yếu là các bác sĩ chuyên khoa nội chung, nhi khoa nên kiến thức chuyên ngành còn nhiều hạn chế. Vì vậy cho tới nay chúng ta chưa có các thầy thuốc chuyên ngành theo đúng các tiêu chuẩn quốc tế. Nhưng nếu tính theo tiêu chuẩn qui ước của Việt Nam (theo nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết năm 2005-2006 về hệ thống quản lý nội tiết) thì chỉ có: 186 bác sĩ có bằng sau đại học về chuyên ngành nội tiết, chiếm 4,5% tổng số bác sĩ nội chung; có 590 bác sĩ nội khoa/nhi khoa/khác được coi là bác sĩ nội tiết, chiếm 14,4%.

Đội ngũ cán bộ chuyên trách thực hiện dự án còn thiếu về số lượng, về chất lượng cũng còn nhiều hạn chế. Có nhiều nơi, cán bộ là những người mới không được đào tạo, kinh nghiệm triển khai dự án phòng chống ĐTĐ còn hạn chế, đặc biệt là cán bộ tuyến huyện và tuyến xã.

Một số cán bộ thuộc các đơn vị triển khai dự án còn thụ động, trông chờ, chưa tích cực trong việc phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan để đẩy nhanh tiến độ của dự án vì vậy kết quả công việc đạt được trong năm qua thấp, nhiều đơn vị còn lúng túng khi triển khai dự án.

Tại các đơn vị YTDP thì chưa có công văn hướng dẫn thành lập khoa Dinh dưỡng- Nội tiết mà chủ yếu dựa vào Thông tư 01 thành lập khoa PC BC- sốt rét nên rất khó khăn khi thực hiện dự án.

Tại các tuyến huyện và xã, lực lượng cán bộ thành thạo khám, tư vấn, sàng lọc phát hiện sớm bệnh ĐTĐ còn là một vấn đề nan giải, mà người dân chủ yếu sống gần y tế xã phường. Do vậy nâng cao năng lực cho cán bộ cơ sở là một đòi hỏi cấp bách cho dự án.

Bệnh ĐTĐ hoàn toàn có thể dự phòng được, nếu như y tế tuyến cơ sở phát triển tốt, tôi hy vọng sẽ giúp ích cho người dân biết cách dự phòng ĐTĐ và nếu chẳng may bị bệnh thì y tế tuyến cơ sở sẽ là nơi quản lý người bệnh giúp cho người bệnh đỡ phải tốn kém chi phí đi lại...

Cần có thời gian để đào tạo nhân lực

TS. Nguyễn Khoa Diệu Vân - Khoa ĐTĐ, Bệnh viện Bạch Mai.
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của xã hội, các bệnh lý rối loạn chuyển hóa như béo phì, đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa ngày càng gia tăng, tuy nhiên đội ngũ thầy thuốc của chuyên ngành hiện nay chưa đủ để đáp ứng cho điều trị căn bệnh này. Để giải quyết vấn đề này đòi hỏi một thời gian nhất định bởi hầu hết các bác sĩ mới ra trường hiện nay là bác sĩ chuyên ngành nội đa khoa. Theo tôi, giải pháp trước mắt đó là:

- Mở các lớp chuyên khoa định hướng của chuyên ngành tại các bệnh viện có chuyên ngành nội tiết phát triển như Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Nội tiết Trung ương...

- Tăng cường đào tạo chuyên khoa tại các tuyến cơ sở, từ đó nâng cao kiến thức chuyên ngành cho các bác sĩ tuyến tỉnh, huyện thậm chí tới tuyến xã.

- Động viên các bác sĩ và điều dưỡng viên tại các tuyến cơ sở lên các tuyến chuyên khoa đào tạo từng giai đoạn ngắn (từ 1 - 3; 6 tháng).

- Trang bị các kiến thức cơ bản và nhấn mạnh tầm quan trọng của chuyên ngành Nội tiết chuyển hóa cho các đội ngũ sinh viên của các trường đại học y trên cả nước.

- Mở rộng quan hệ quốc tế giúp đào tạo các bác sĩ trẻ phát triển chuyên ngành tốt hơn nữa.

            Thu Hà (thực hiện)


Ý kiến của bạn