Tỷ số giới tính khi sinh (SRB) bình thường về mặt sinh học nằm trong khoảng 104-106 bé trai/100 bé gái. Tuy nhiên, các tỷ số cao tới mức 115-120 bé trai trên 100 bé gái đã được ghi nhận tại Trung Quốc (118,1 vào năm 2009), Ấn Ðộ (110,6 vào năm 2006-08)… Ở Việt Nam, tỷ số này là 111,2 bé trai /100 bé gái vào năm 2010. Ðể đối phó với những hệ lụy của sự mất cân bằng này, Hội thảo quốc tế với chủ đề “Mất cân bằng giới tính khi sinh: Giải quyết vấn đề và định hướng cho tương lai” đã được Chính phủ Việt Nam và Liên Hợp Quốc đồng tổ chức trong hai ngày 5 - 6/10 tại Hà Nội.
![]() Tình trạng mất cân bằng giới tính ở Việt Nam đang tăng cao.Ảnh: K.L |
Từ tư tưởng “trọng nam, khinh nữ”
Hiện nay, ngày càng nhiều nước đang chứng kiến tình trạng mất cân bằng tỉ số giới tính khi sinh. Tỷ lệ lựa chọn giới tính khi sinh đang tăng ở mức đáng báo động khiến UNFPA phải kêu gọi các nước nhìn nhận lại vấn đề ở tầm toàn cầu để có thể đối phó một cách nghiêm túc hơn. |
Tác động tới cấu trúc dân số
Mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ tạo ra những hệ lụy của sự thiếu hụt các cô dâu hiện nay ở Trung Quốc, Hàn Quốc. Ở Trung Quốc, tỉ lệ nam giới độc thân không có khả năng lấy vợ, đặc biệt nam giới ở khu vực nông thôn là rất cao. Nguyên nhân của tình trạng này là do nhiều phụ nữ ở nông thôn đã di cư đến thành thị để tìm kiếm công ăn việc làm, nâng cao trình độ. Nam giới nông thôn với trách nhiệm chăm sóc cha mẹ thường phải ở lại quê nhà, do đó cơ hội tìm kiếm bạn đời càng ít hơn.
Mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ tác động tới cấu trúc giới tính của dân số trong tương lai, dẫn đến tình trạng dư thừa nam giới khi đến độ tuổi kết hôn. Thiếu phụ nữ sẽ làm tăng thêm áp lực buộc họ phải kết hôn sớm hơn. Nhu cầu mua bán tình dục cũng có thể ngày càng tăng và các mạng lưới buôn bán phụ nữ có nguy cơ sẽ mở rộng hơn do sự mất cân bằng này.
![]() Cộng tác viên dân số xã Nhân Cơ (Đắc R’lấp - Đăk Nông) tuyên truyền công tác dân số - KHHGĐ tại bon Bù Zấp. Ảnh: Q.S |
Cần chung tay của cả cộng đồng
Tại Hội thảo, đại diện các Chính phủ, phái đoàn của 11 nước tham dự đã cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm và đưa ra các khuyến nghị, giải pháp nhằm cùng nhau ngăn ngừa, giảm thiểu sự mất cân bằng giới tính khi sinh.
Ở Việt Nam, nhằm ngăn ngừa giảm thiểu tình trạng này, Pháp lệnh Dân số 2003, Luật Bình đẳng giới, dự thảo Chiến lược DS-SKSS giai đoạn 2011 - 2020, một số Nghị định của Chính phủ đã có những quy định cụ thể nghiêm cấm hành vi lựa chọn, chẩn đoán giới tính thai nhi. Trước tình hình SRB gia tăng, năm 2009, Tổng cục DS-KHHGĐ (Bộ Y tế) đã triển khai thí điểm mô hình ngăn ngừa và giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh ở 10 tỉnh, thành phố, mở rộng 18 tỉnh, thành vào năm 2009 và đến năm 2011 triển khai ở 43 tỉnh, thành phố trên cả nước...
Để giảm tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, xóa bỏ hệ lụy của gốc rễ “thâm căn cố đế”, đại diện các nước cũng thống nhất rằng, cần thiết phải có thêm nhiều nỗ lực hơn nữa từ phía Chính phủ và các tổ chức xã hội dân sự, bao gồm cả những nỗ lực nhằm giải quyết phân biệt đối xử đối với phụ nữ và trẻ em gái vốn đã ăn sâu bám rễ và là lý do chính cho việc lựa chọn giới tính trước khi sinh. Đại diện các nước cũng cho rằng, thúc đẩy bình đẳng giới và trao thêm quyền năng cho phụ nữ và trẻ em gái sẽ là giải pháp then chốt giúp điều chỉnh mất cân bằng giới tính khi sinh.
Hy vọng những thành công và bài học của các nước sẽ giúp Việt Nam định hướng lại chính sách về phát triển gia đình và xây dựng một hệ thống chăm sóc y tế và xã hội hiệu quả hơn để đưa tỷ số giới tính khi sinh trở về mức sinh học bình thường.
Khánh An

