Chiến lược quốc gia dinh dưỡng 2001-2010
Nâng cao tầm vóc người Việt Nam và chất lượng giống nòi có ý nghĩa quyết định tới sự phát triển kinh tế xã hội và hưng thịnh của đất nước. Để nâng cao tầm vóc - cải thiện chiều cao của trẻ em Việt Nam phải bắt đầu từ các mục tiêu cải thiện tình trạng dinh dưỡng và giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em (SDDTE). Tại Hội nghị thượng đỉnh về dinh dưỡng họp tại Roma tháng 12/1992, đại diện của 159 nước đã tuyên bố quyết tâm thanh toán nạn đói và đẩy lùi các bệnh SDD. Ở Việt Nam, nhiều năm qua Đảng và Nhà nước đã đặc biệt quan tâm tới yếu tố con người trong chiến lược phát triển xã hội, coi con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là mục tiêu phấn đấu cao nhất. Để xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng được các yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì việc nâng cao sức khỏe - trong đó yếu tố nền tảng là cải thiện dinh dưỡng là cần thiết và cấp bách. Ngày 16/9/1995, Thủ tướng Chính phủ có quyết định phê duyệt bản Kế hoạch hành động quốc gia về dinh dưỡng 1996-2000. Đây là văn kiện đầu tiên về chiến lược dinh dưỡng ở nước ta, trong đó Chính phủ yêu cầu chính quyền các cấp có trách nhiệm đưa các mục tiêu dinh dưỡng, xoá nạn đói và giảm suy dinh dưỡng vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn và hàng năm của cấp mình.
PGS.TS. Lê Thị Hợp (bên phải ảnh) cho trẻ uống bổ sung vi chất dinh dưỡng - một trong những mục tiêu quan trọng của Chương trình Phòng chống SDD trẻ em. |
Thế kỷ 21 với những thách thức mới, sự nghiệp phát triển đất nước trong giai đoạn tới đòi hỏi những phấn đấu cao hơn thông qua việc xây dựng và thực thi các chiến lược phát triển bền vững, trong đó chiến lược dinh dưỡng là một thành tố quan trọng. Chiến lược dinh dưỡng mang tính toàn diện, đảm bảo cho mọi gia đình, mọi người có được một chế độ ăn uống hợp lý, nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng, nâng cao chất lượng giống nòi; tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa mục tiêu cải thiện dinh dưỡng của nhân dân, ngày 22/ 02/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 21/2001/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng (CLQGDD) giai đoạn 2001-2010. Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Bộ Y tế là cơ quan chủ trì thực hiện chiến lược và Viện Dinh dưỡng là cơ quan thường trực. Chiến lược này thể hiện sự cam kết cao của Nhà nước ta đối với công tác dinh dưỡng. Mục tiêu tổng quát của chiến lược là "Đảm bảo đến năm 2010 tình trạng dinh dưỡng của nhân dân được cải thiện rõ rệt, các gia đình trước hết là trẻ em và bà mẹ được nuôi dưỡng và chăm sóc hợp lý, bữa ăn của người dân ở tất cả các vùng đủ hơn về số lượng, cải thiện hơn về chất lượng, bảo đảm về an toàn vệ sinh, hạn chế các vấn đề sức khỏe mới nảy sinh có liên quan tới dinh dưỡng".
Với vai trò là cơ quan chủ trì tổ chức triển khai CLQGDD, Bộ Y tế đã chú trọng công tác tiếp cận phối hợp liên ngành, huy động các nguồn lực khác nhau để thực hiện chiến lược. Ở các bộ, ban, ngành TW đều có kế hoạch, chương trình đưa ra các chính sách, giải pháp nhằm thực hiện các mục tiêu của CLQGDD như Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Thương Mại, Bộ Văn hóa Thông tin, Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội, Hội LHPNVN, Hội Nông dân Việt Nam; Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; Cục quân nhu, Tổng cục Hậu cần thuộc Bộ Quốc phòng, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Một số ngành đã xây dựng chương trình hành động để phối hợp thực hiện CLQGDD của ngành như Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam...
Trong khuôn khổ của Chiến lược quốc gia dinh dưỡng nhiều chương trình mục tiêu quan trọng như phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em, phòng chống bướu cổ, đảm bảo ATVSTP đã được Nhà nước đầu tư kinh phí triển khai. Đồng thời hợp tác với các tổ chức quốc tế như UNICEF, WHO, FAO và các tổ chức phi chính phủ đó được tăng cường nhằm huy động nguồn lực cho thực hiện chiến lược. Nhiều dự án hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác nhau đã được triển khai trong khuôn khổ của Chiến lược quốc gia dinh dưỡng.
Chương trình mục tiêu phòng chống SDDTE
Mỗi năm gần 2% trẻ em Việt Nam thoát khỏi suy dinh dưỡng Theo Viện Dinh dưỡng, trong 10 năm qua kể từ 1998 (năm Bộ Y tế thực hiện việc triển khai Chương trình phòng chống SDDTE, tỷ lệ SDDTE đã giảm từ 38,7% xuống còn 19,9% năm 2008, tương đương với 1,4 triệu trẻ thoát khỏi SDD (thể nhẹ cân), sớm hơn 2 năm so với mục tiêu đã đề ra của Chiến lược quốc gia dinh dưỡng giai đoạn 2001 - 2010. Ngày 23/12, tại Hà Nội, Bộ Y tế sẽ tổ chức Hội nghị "Tổng kết 10 năm chương trình mục tiêu phòng chống SDDTE Việt Nam" nhằm tổng kết, đánh giá tính hiệu quả của chương trình và đề ra chiến lược, mục tiêu phòng chống SDDTE cho giai đoạn tiếp theo. |
Chương trình mục tiêu phòng chống SDD là một trong những chương trình triển khai đề đạt được mục tiêu của Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2001-2010 là giảm SDDTE dưới 5 tuổi và là một trong 10 chương trình mục tiêu y tế quốc gia được triển khai ở tất cả các xã phường trên toàn quốc. Từ năm 1994, Chương trình Phòng chống SDD đã bắt đầu được triển khai tại gần 3.000 xã khó khăn dưới sự triển khai, chỉ đạo của Ủy ban Chăm sóc bà mẹ, trẻ em. Trong giai đoạn khởi động này, Chương trình phòng chống SDD đã đạt được một số kết quả bước đầu trong việc giảm SDDTE. Đến năm 1998, Chính phủ đã quyết định chuyển giao Chương trình Phòng chống SDDTE về Bộ Y tế quản lý chỉ đạo và Bộ Y tế đã giao cho Viện Dinh dưỡng là đơn vị đầu mối. Mục tiêu chính của chương trình là cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em về cân nặng và chiều cao. Chỉ tiêu cụ thể là đến năm 2010 giảm tỷ lệ trẻ SDD ở thể nhẹ cân trên cả nước xuống dưới 20%. Thanh toán SDD thể nhẹ cân trên 30% ở tất cả các tỉnh và vùng sinh thái trên cả nước, giảm suy dinh dưỡng thể thấp còi xuống dưới 25%. Những hoạt động của chương trình phòng chống SDD đã được triển khai rộng khắp ở tất cả các xã phường trên phạm vi toàn quốc với các nội dung về giáo dục truyền thông về nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ nhỏ, phụ nữ mang thai, bổ sung vitamin A cho trẻ em, bổ sung viên sắt và viên đa vi chất cho phụ nữ mang thai, theo dõi sự phát triển về cân nặng của trẻ và tập huấn cập nhật kiến thức dinh dưỡng và các kỹ năng, kỹ thuật triển khai hoạt động dinh dưỡng cho cán bộ và cộng tác viên dinh dưỡng....
Kết quả 10 năm triển khai CLQGDD 2001-2010 và Chương trình mục tiêu phòng chống SDDTE
Sau 10 năm thực hiện các giải pháp phòng chống SDD trên phạm vi toàn quốc, với sự nỗ lực của ngành y tế, của các bộ, ngành liên quan, của Viện Dinh dưỡng, cũng như của các cấp chính quyền cơ sở, các tổ chức xã hội và đặc biệt là sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế; Việt Nam đã đạt được những thành tích đáng khích lệ trong công tác chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng cho trẻ em. Từ Trung ương đến địa phương đã xây dựng được mạng lưới cán bộ liên ngành làm công tác dinh dưỡng vững mạnh. Kiến thức và thực hành dinh dưỡng cho phụ nữ và bà mẹ đã được cải thiệ rõ rệt. Thông qua Chương trình mục tiêu phòng chống SDDTE, lãnh đạo các cấp đã quan tâm hơn đến công tác dinh dưỡng, kinh phí của địa phương đầu tư cho dinh dưỡng tăng hàng năm. Các tổ chức quốc tế đánh giá cao kết quả cải thiện tình trạng dinh dưỡng và giảm SDDTE một cách bền vững của Việt Nam và nhiều dự án hợp tác quốc tế đã được đầu tư giúp Việt Nam thực hiện mục tiêu của CLQGDD. Tỷ lệ SDDTE thể nhẹ cân đã giảm từ 38,7% (năm 1998) xuống còn 19,9% (năm 2008), đạt được mục tiêu sớm 2 năm so với kế hoạch đã đề ra.
Những thách thức về dinh dưỡng và một số định hướng trong giai đoạn mới ở Việt Nam
Sau 10 năm thực hiện CLQGDD và Chương trình mục tiêu phòng chống SDDTE, chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng tự hào như đã nêu ở phần trên kết quả là tình trạng dinh dưỡng của người dân nói chung đã được cải thiện; tỷ lệ SDDTE thể nhẹ cân giảm nhanh vượt kế hoạch của CLQGDD đề ra. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều thách thức về dinh dưỡng mà chúng ta phải đối đầu:
1. SDDTE vẫn còn cao đặc biệt là SDD thể thấp còi.
2. Thiếu vi chất dinh dưỡng vẫn là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng cần tiếp tục giải quyết.
3. Sự gia tăng thừa cân béo phì và các bệnh mạn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng.
4. Suy thoái kinh tế toàn cầu, thiên tai bão lũ ảnh hưởng đến an ninh thực phẩm hộ gia đình ở những vùng khó khăn.
5. Vấn đề ATVSTP không đảm bảo cũng ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe nhân dân.
Một số định hướng, giải pháp trong giai đoạn tới
Để duy trì mục tiêu giảm SDD thể nhẹ cân một cách bền vững (đến 2020 giảm xuống dưới 10%), đặc biệt là giảm SDD thể thấp còi góp phần nâng cao tầm vóc người Việt Nam thì cần phải xây dựng chiến lược dinh dưỡng phù hợp cho giai đoạn tới. Chương trình mục tiêu phòng chống SDDTE cần được tăng cường đầu tư và có các giải pháp can thiệp đặc hiệu cho các đối tượng, vùng miền dựa trên tình hình cụ thể ở từng địa phương như:
- Thực hiện chăm sóc dinh dưỡng sớm (dinh dưỡng cho phụ nữ trước khi mang thai, trong thời gian mang thai và trẻ em dưới 24 tháng tuổi) theo định hướng dự phòng.
- Tăng cường các giải pháp phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng cho các đối tượng có nguy cơ (bổ sung vitamin A liều cao cho trẻ em 6-60 tháng tuổi, bổ sung viên sắt folic cho phụ nữ mang thai, phụ nữ tuổi sinh đẻ; tăng cường vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm...).
- Triển khai các giải pháp can thiệp đặc hiệu (bổ sung đa vi chất dinh dưỡng cho trẻ nhỏ và bà mẹ), can thiệp toàn diện cho những vùng khó khăn, có tỷ lệ SDD cao...
- Theo dõi tăng trưởng về chiều cao và giám sát tỷ lệ SDD thể thấp còi.
- Giám sát tình hình thừa cân béo phì và các bệnh mạn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng...
Ngoài ra, tăng cường phối hợp liên ngành, huy động sự tham gia và đầu tư của địa phương vào các hoạt động dinh dưỡng là rất quan trọng. Đồng thời đẩy mạnh sự hợp tác và hỗ trợ của các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu dinh dưỡng và triển khai các dự án đặc hiệu là rất cần thiết để cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho toàn dân đặc biệt là trẻ em.