Nhiễm nhiều loại ký sinh trùng sốt rét:

Cách phát hiện và chữa trị

Suckhoedoisong.vn - Sốt rét do nhiễm nhiều loại ký sinh trùng thường được gọi là nhiễm phối hợp. Ở nước ta, các nhà khoa học xác định có đủ cả 4 loại ký sinh trùng sốt rét gây bệnh...

Sốt rét do nhiễm nhiều loại ký sinh trùng thường được gọi là nhiễm phối hợp. Ở nước ta, các nhà khoa học xác định có đủ cả 4 loại ký sinh trùng sốt rét gây bệnh nhưng chủ yếu là Plasmodium falciparum và Plasmodium vivax. Riêng loại Plasmodium malariae hiếm gặp, chỉ khu trú tại tỉnh Khánh Hòa và loại Plasmodium ovale thường được phát hiện bằng kỹ thuật PCR (polymerase chain reaction). Trên một bệnh nhân xét nghiệm máu có thể thấy nhiễm phối hợp của 2 hoặc 3 hay thậm chí cả 4 loại ký sinh trùng sốt rét.

Trạm y tế cần chú ý phát hiện sốt rét do nhiễm nhiều loại ký sinh trùng để điều trị phù hợp (ảnh minh họa).

Các nhà khoa học phát hiện sốt rét do nhiễm nhiều loại ký sinh trùng ở châu Phi, vùng cận nhiệt đới thường gặp là nhiễm Plasmodium falciparum phối hợp với Plasmodium malariae; ở Tây Phi thường gặp là nhiễm Plasmodium falciparum phối hợp với Plasmodium ovale; ở Bắc Phi, châu Á, châu Mỹ Latinh, trong đó có Việt Nam thường gặp là nhiễm Plasmodium falciparum kết hợp với Plasmodium vivax. Trên thực tế, sốt rét do nhiễm phối hợp nhiều loại ký sinh trùng sốt rét sẽ làm cho bệnh cảnh lâm sàng không điển hình; vì vậy việc chẩn đoán thường khó khăn hơn và phải căn cứ vào kết quả xét nghiệm để xác định và xử trí điều trị phù hợp. Cần thận trọng và lưu ý các trường hợp bệnh nhân sốt rét nhiễm phối hợp nhiều loại ký sinh trùng trong đó có Plasmodium falciparum thì rất nguy hiểm vì dễ dẫn đến sốt rét nặng và ác tính gây tử vong.

Ở nước ta, bằng xét nghiệm thường quy lấy lam máu nhuộm giemsa soi dưới kính hiển vi quang học ghi nhận cơ cấu ký sinh trùng sốt rét có tỷ lệ nhiễm khác nhau tùy theo từng vùng nhưng nhìn chung tỷ lệ nhiễm Plasmodium falciparum chiếm từ 70 - 90%, nhiễm Plasmodium vivax chiếm từ 10 - 30%, loại Plasmodium malariae hiếm gặp chỉ chiếm tỷ lệ từ 1 - 3%, còn Plasmodium ovale chỉ mới được phát hiện ở một số vùng sốt rét lưu hành nặng bằng kỹ thuật PCR. Tại vùng sốt rét lưu hành nặng ở tỉnh Khánh Hòa, Bình Phước, Lâm Đồng, Đăk Lăk, Gia Lai... ngoài loại ký sinh trùng Plasmodium falciparum và Plasmodium vivax thường gặp khá phổ biến, bằng kỹ thuật PCR đã phát hiện tỷ lệ nhiễm phối hợp nhiều loại ký sinh trùng có tỷ lệ từ 24 - 81% với 2 loại, 3 loại, thậm chí cả 4 loại. Vấn đề cần lưu ý trong các trường hợp nhiễm ký sinh trùng sốt rét phối hợp là phát hiện cho được loại Plasmodium falciparum gây sốt rét nặng và ác tính để có căn cứ xử trí điều trị kịp thời nhằm hạn chế tử vong.

Theo thống kê của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn, năm 2013 ghi nhận nhiễm phối hợp nhiều loại ký sinh trùng ở bệnh nhân mắc bệnh sốt rét tại khu vực miền Trung - Tây Nguyên chiếm tỷ lệ 3,73%; 11 tháng năm 2014 nhiễm phối hợp ký sinh trùng sốt rét ở bệnh nhân mắc bệnh cũng chiếm tỷ lệ 1,63%. Mặc dù nhiễm phối hợp nhiều loại ký sinh trùng ở bệnh nhân sốt rét tại khu vực có tỷ lệ thấp nhưng ẩn chứa nguy cơ sốt rét nặng và ác tính dễ dẫn đến tử vong vì có sự hiện diện của loại ký sinh trùng Plasmodium falciparum. Vì vậy, các cơ sở y tế ở tuyến đầu cần quan tâm, chú ý vấn đề này để phát hiện, xử trí kịp thời những trường hợp bệnh nhân sốt rét nhiễm phối hợp có loại ký sinh trùng Plasmodium falciparum bằng phác đồ quy định góp phần hạn chế tử vong.

Theo hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh sốt rét được Bộ Y tế ban hành; khi bệnh nhân bị mắc sốt rét do nhiễm phối hợp nhiều loại ký sinh trùng, cần lưu ý đến các trường hợp nhiễm phối hợp có ký sinh trùng Plasmodium falciparum; đây là loại ký sinh trùng thường gây sốt rét nặng và ác tính dễ dẫn đến tử vong nên phải được quan tâm để xử trí kịp thời. Việc điều trị sốt rét do nhiễm ký sinh trùng phối hợp có Plasmodium falciparum được thực hiện tùy theo nhóm tuổi người bệnh. Nếu trẻ em dưới 3 tuổi, sử dụng thuốc phối hợp dihydroartemisinin-piperaquin (biệt dược là arterakine, CV artecan) dùng trong 3 ngày. Trẻ em từ 3 tuổi trở lên và người lớn, sử dụng thuốc phối hợp dihydroartemisinin-piperaquin dùng trong 3 ngày kết hợp với thuốc primaquin dùng trong 14 ngày. Ở phụ nữ có thai trong 3 tháng đầu của thai kỳ, sử dụng thuốc quinin dùng trong 7 ngày kết hợp với thuốc clindamycin dùng trong 7 ngày. Ở phụ nữ có thai trên 3 tháng của thai kỳ, sử dụng thuốc phối hợp dihydroartemisinin-piperaquin dùng trong 3 ngày; cần lưu ý không được kết hợp thuốc primaquin dùng trong 14 ngày như trẻ em trên 3 tuổi và người lớn bình thường.

TTƯT.BS. NGUYỄN VÕ HINH

 

 

 

Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Cách phát hiện và chữa trị

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT