Các “đại gia” hùng mạnh vì đâu?

Quốc tế
Với các chiến lược phát triển kinh tế phù hợp và nguồn năng lượng phong phú, hiện Brazil đang là nền kinh tế lớn nhất châu Mỹ Latinh và là một nền kinh tế lớn trên thế giới.

Hậu chiến tranh thế giới lần thứ II, Đức đã nhanh chóng tái xây dựng và nổi lên trở thành một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới. Brazil, một cường quốc khu vực Mỹ Latinh, cũng là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trong những năm qua. Đây chỉ là hai trong số nhiều nền kinh tế lớn hiện nay đã thành công nhờ biết tận dụng các cuộc cách mạng công nghệ, không ngừng cải cách kinh tế và gia tăng mạng lưới an sinh xã hội.

Đổi mới công nghệ

Trong lịch sử hiện đại, đổi mới công nghệ đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển và sức mạnh của một quốc gia. Anh là nước dẫn đầu trong cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên với việc sử dụng động cơ hơi nước vào những năm 1860 và "bỗng nhiên" trở thành một "đế chế nơi mặt trời không bao giờ lặn". Mỹ và Đức sau đó là những quốc gia đã dẫn dắt cuộc cách mạng công nghiệp thứ hai bao trùm các lĩnh vực như điện, động cơ nổ và máy bay.

Từ giữa thế kỷ 20, Mỹ lại tiếp tục dẫn đầu cuộc cách mạng công nghệ lần thứ ba cũng như những đổi mới về tài chính để từ đó đưa họ lên vị thế là cường quốc số 1 thế giới cho đến nay.

Thực tế đó cho thấy, những đổi mới mang tính cách mạng trong khoa học và công nghệ luôn có vai trò vô cùng quan trọng trong phát triển của nền kinh tế Mỹ cũng như với bất cứ quốc gia nào khác. Theo các con số thống kê, có tới ¾ các sản phẩm và dịch vụ mới kể từ chiến tranh thế giới thứ II được "sinh ra" từ các đổi mới công nghệ và cách mạng công nghiệp. Trong giai đoạn từ 1990 đến 2007, lương trung bình của người lao động làm trong các lĩnh vực sáng tạo cao hơn  2,5 lần so với trung bình chung.

 Chính phủ Đức đã nỗ lực để ngăn chặn những bất bình đẳng xã hội.

Khuyến khích cải cách

Kinh tế Đức đã tăng tốc, vượt Pháp và Anh vào giữa thế kỷ 20 nhờ mô hình kinh tế khác biệt với mô hình chủ nghĩa tư bản tự do của Anh và Mỹ. Cuối những năm 50, sản xuất công nghiệp của Đức vượt mức trước chiến tranh. Sang những năm 60, 70, Đức đứng thứ 3 thế giới về sản xuất công nghiệp và có lúc vượt Mỹ về xuất khẩu công nghiệp, dự trữ vàng và ngoại tệ. Trên cơ sở mô hình kinh tế thị trường xã hội, chính phủ Đức đã nỗ lực trong thiết lập một môi trường cạnh tranh công bằng, duy trì tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát ở mức thấp, trong khi không ngừng cải thiện điều kiện làm việc và hệ thống phúc lợi xã hội.

Tại Đức, các hỗ trợ về sản xuất, công nghệ và chính sách cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa luôn được coi là trụ cột trong quá trình chuyển đổi và hoàn thiện cấu trúc nền kinh tế. Theo một báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), dòng chữ "Made in Germany" phía sau mỗi sản phẩm sản xuất bởi các doanh nghiệp Đức dần dần đã trở thành biểu tượng của chất lượng sau chiến tranh thế giới lần thứ II. Hiện nay sản xuất vẫn đóng góp khoảng 23% cho GDP của Đức, cao hơn 6% so với mức trung bình 17% của các nước có thu nhập cao khác. Đức cũng chính là quốc gia luôn đứng đầu thế giới về xuất khẩu trong nhiều thập kỷ, trước khi "tạm nhường" vị trí này cho Trung Quốc trong năm 2009 do chịu tác động mạnh của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu.

Coi trọng an sinh xã hội

Chính phủ Đức đã nỗ lực để ngặn chặn những bất bình đẳng xã hội khoảng cách thu nhập thông qua các biện pháp can thiệp và hệ thống an sinh xã hội hiệu quả. Đức cũng tiến hành hàng loạt các cải cách về luật và quy định đối với hệ thống lương hưu, bảo hiểm y tế và trợ cấp thất nghiệp. Họ cho rằng, khi hệ thống an sinh xã hội được đảm bảo tốt thì tự nó sẽ đóng góp vào sự ổn định cần thiết cho tăng trưởng kinh tế.

Một trong những đổi mới mà nước Đức đã tiến hành là khuyến khích trao cho người lao động quyền được tham gia vào các quyết định nhất định của tập đoàn nơi họ làm việc. Đức cũng khuyến khích người lao động nắm giữ cổ phiếu của doanh nghiệp nơi họ làm việc.

Tại Brazil, Đảng Lao động cầm quyền đã áp dụng hàng loạt các chính sách kinh tế có lợi cho các đối tượng nghèo. Ví dụ như Chương trình xóa đói Zero Hunger. Theo đó, Brazil đã thiết lập Bộ Phát triển Xã hội và Xóa đói để tiến hành các hoạt động cứu trợ và trợ cấp xã hội cho những người từ 65 tuổi trở lên, những người tàn tật và những đối tượng bị đói rét. Theo con số của Viện nghiên cứu Lao động và Xã hội Brazil, trong giai đoạn 2004-2008, tỷ lệ nghèo của nước này đã giảm từ 33,2% xuống chỉ còn 22,9%.

Với các chiến lược phát triển kinh tế phù hợp và nguồn năng lượng phong phú, hiện Brazil đang là nền kinh tế lớn nhất châu Mỹ Latinh và là một nền kinh tế lớn trên thế giới. Theo một nghiên cứu của Goldman Sachs,  cho đến trước năm 2050, nước này có thể sẽ là nền kinh tế đứng thứ tư thế giới, vượt Đức, Nhật và Anh. 

Đỗ Lê


Ý kiến của bạn