Theo Quyết định số 3347/QĐ-BYT, ngày 29/10/2026 của Bộ Y tế, Hướng dẫn chuyên môn chuyên ngành Lão khoa tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, theo nghiên cứu tỷ lệ ngã ở người Việt Nam từ 60 tuổi trở lên là 7,3%. Tỷ lệ ngã ở người bệnh cao tuổi ngoại trú được ghi nhận là 23,7%, trong đó tỷ lệ tái ngã chiếm 5,8%. Để giảm thiểu nguy cơ ngã ở người cao tuổi, gia đình, người thân cần bố trí đồ vật trong nhà đủ ánh sáng, lát sàn bằng vật liệu chống trơn trượt… nhằm phòng ngừa nguy cơ ngã cho người cao tuổi.
Dưới đây là các can thiệp được khuyến cáo để giảm nguy cơ ngã ở người cao tuổi cần được cá thể hóa.

Để giảm thiểu nguy cơ ngã ở người cao tuổi, gia đình, người thân cần bố trí đồ vật trong nhà đủ sáng và chống trơn trượt. Ảnh: AI.
Các loại thuốc có thể làm tăng nguy cơ ngã ở người cao tuổi
- Xác định bất kỳ loại thuốc nào có thể làm tăng nguy cơ ngã của người bệnh và xem xét điều chỉnh thuốc để giảm nguy cơ. Các loại thuốc như thuốc hạ huyết áp có thể góp phần tăng nguy cơ ngã do tác dụng phụ như chóng mặt hoặc choáng váng, nhưng không có định nghĩa chuẩn về các loại thuốc có thể làm tăng nguy cơ ngã. Cách các loại thuốc tương tác với nhau có thể góp phần vào nguy cơ ngã nhưng rất biến thiên, do đó cần cá nhân hóa trong quản lý thuốc cho người bệnh.
- Bất kỳ loại thuốc nào có thể làm tăng nguy cơ ngã và xem liệu có cần điều chỉnh hoặc ngừng thuốc không. Cụ thể cần đánh giá:
+ Quan điểm và sự hiểu biết của người bệnh và của các thành viên trong gia đình hoặc người chăm sóc, về các loại thuốc họ đang sử dụng.
+ Các mối lo ngại, câu hỏi hoặc vấn đề của người bệnh và của các thành viên trong gia đình hoặc người chăm sóc khi cần thiết, liên quan đến thuốc.
+ Tất cả các loại thuốc kê đơn, thuốc không kê đơn và thuốc bổ trợ mà người bệnh đang sử dụng hoặc sử dụng và mục đích sử dụng chúng.
+ Mức độ an toàn của các loại thuốc, hiệu quả của chúng đối với người bệnh, sự phù hợp của chúng và liệu việc sử dụng chúng có tuân theo các hướng dẫn quốc gia hay không.
+ Người bệnh có đã từng hoặc hiện có yếu tố nguy cơ tiến triển các phản ứng có hại với thuốc hay không (báo cáo các phản ứng có hại).
+ Công cụ STOPPFall hoặc FRIDs có thể giúp tối ưu hóa sử dụng thuốc ở người cao tuổi bằng cách ngừng các thuốc làm tăng nguy cơ ngã.
- Đối với những người đang sử dụng thuốc tâm thần: Đánh giá bất kỳ thuốc tâm thần nào đang sử dụng. Thảo luận về nguy cơ tăng ngã liên quan đến thuốc tâm thần với người bệnh và lập kế hoạch dừng thuốc khi cần thiết.
Bổ sung vitamin D nhằm phòng ngừa nguy cơ ngã ở người cao tuổi
Bổ sung vitamin D để phòng ngừa ngã chỉ nên được áp dụng cho những người có nguy cơ thiếu vitamin D. Bổ sung vitamin D có thể giúp duy trì sức khỏe xương và cơ, nhưng chỉ nên được thực hiện đối với những người có mức vitamin D thấp hoặc có nguy cơ thiếu hụt vitamin D, ví dụ như người cao tuổi, những người không tiếp xúc nhiều với ánh sáng mặt trời hoặc những người có chế độ ăn thiếu vitamin D.
Đối với người cao tuổi có nguy cơ thiếu vitamin D cao nên bổ sung vitamin D 800-1000 IU mỗi ngày.
Phòng tránh về nguy cơ trong nhà cho người cao tuổi
- Đánh giá đầy đủ nguy cơ ngã trong nhà và có các can thiệp phù hợp:
+ Bố trí đồ trong nhà.
+ Ánh sáng lối đi, cầu thang, ánh sáng phòng ngủ (có thể dễ dàng bật ánh sáng vào ban đêm).
+ Tay vịn ở vị trí cần thiết.
+ Nhà vệ sinh: Tay vịn, lát sàn bằng vật liệu ít trơn trượt, độ cao mặt sàn nhà vệ sinh nên bằng so với bên ngoài,…
+ Mặt sàn và ánh sáng nhà bếp.
Chương trình bài tập phòng ngừa ngã cho người cao tuổi
Chương trình bài tập phòng ngừa ngã cho những người có nguy cơ ngã, cần đánh giá và quản lý ngã toàn diện. Chương trình bài tập phòng ngừa ngã cần:
- Được thực hiện bởi các nhân viên y tế có chuyên môn phù hợp.
- Tăng dần và cá nhân hóa theo nhu cầu, sở thích, mục tiêu và khả năng của người bệnh.
- Tập trung vào các yếu tố chức năng liên quan đến nguy cơ ngã của người bệnh, ví dụ: tập luyện thăng bằng, tập tăng cường sức mạnh cơ và luyện tập sức bền.
Bao gồm các đánh giá tiến trình thực hiện, tuân thủ thực hiện bài tập thường xuyên.
Các chương trình tập luyện được thực hiện để tạo ra sự thay đổi hành vi liên quan đến hoạt động thể chất và thói quen ít vận động.
Xem xét các can thiệp hành vi nhận thức cho những người có lo ngại về việc ngã mà không được cải thiện qua các bài tập tăng cường sức mạnh và thăng bằng.
Cụ thể về chương trình tập luyện dự phòng ngã: cần có khám, chỉ định, hướng dẫn thực hiện các bài tập thăng bằng, tăng cường sức mạnh cơ và dáng đi theo qui trình kỹ thuật của Bộ Y tế:
- Tập luyện thăng bằng (tĩnh và động): tập 30 phút/ngày, ít nhất 3 buổi/ tuần.
- Tập luyện tăng cường sức mạnh cơ với lực kháng trở bên ngoài như với tạ, với lực cản dân hồi hoặc kháng trở là chính cơ thể mình. Tập với các nhóm cơ chính gập khuỷu, duỗi khuỷu, cơ tứ đầu, các nhóm cơ mông, các nhóm cơ cẳng chân. Tập cách ngày, 2- 3 buổi/ tuần, 30 phút/ buổi. Cần tuân thủ nguyên tắc tăng dần lực kháng trở, tăng dần thời gian phù hợp với sức khỏe người cao tuổi.
- Tập luyện sức bền (đi bộ, đạp xe): tập luyện sức bền ít có hiệu quả trong phòng tránh ngã nhưng giúp cải thiện chức năng tim mạch, hô hấp, cải thiện giấc ngủ, giảm nguy cơ trầm cảm, giúp ổn định các bệnh mạn tính như tăng huyết áp, tiểu đường… Tập luyện 150-300 phút/tuần cường độ trung bình ở mức 12-14 theo Borg scale, hoặc theo test nói trong khi tập nói được nhưng không hát được, tập 5 buổi/ tuần, mỗi buổi từ 30- 60 phút.
Tối ưu hóa việc tham gia liên tục vào các can thiệp phòng ngừa ngã ở người cao tuổi
- Trong tất cả các môi trường, tối đa hóa khả năng tham gia vào các chương trình tập thể dục phòng ngừa ngã như sau:
- Thảo luận và thống nhất với người tham gia về những thay đổi mà họ sẵn sàng và có khả năng thực hiện để giảm nguy cơ ngã.
- Khuyến khích thay đổi và giải quyết các rào cản tiềm ẩn, ví dụ, nếu người cao tuổi nghi ngờ khả năng hoàn thành các bài tập hoặc có lo ngại về ngã.
- Đảm bảo rằng các can thiệp đủ linh hoạt để phù hợp với nhu cầu và sở thích cá nhân của mỗi người.
- Cân nhắc các bài tập có giám sát và, nếu có, cung cấp cho người tham gia sự lựa chọn về cách thức bài tập được thực hiện, ví dụ, tập cá nhân hoặc nhóm.
- Khi có thể, tạo điều kiện cho việc liên lạc và hỗ trợ xã hội.
Quyết định số 3347/QĐ-BYT