Khói thuốc lá là nguyên nhân gây ra 28 nhóm bệnh, trong đó điển hình là ung thư, tim mạch, hô hấp...
Theo Tổ chức Y tế Thế giới hút thuốc lá gây ra nhiều bệnh mạn tính và nan y và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu mà có thể phòng tránh được. Trong khói thuốc có khoảng 7.000 chất hóa học, trong đó có 69 chất gây ung thư và là nguyên nhân gây ra 28 nhóm bệnh, điển hình như các bệnh ung thư, tim mạch, hô hấp và ảnh hưởng sức khỏe sinh sản của cả nam và nữ giới.
Việc sử dụng thuốc lá kéo dài hàng thế kỷ đã gây ra thảm họa y tế công cộng to lớn lẽ ra có thể tránh được. Sử dụng thuốc lá được cho là liên quan mật thiết tới bệnh tật của hầu hết các cơ quan trong cơ thể, làm suy giảm sức khỏe và gây hại cho thai nhi.
Phơi nhiễm trước khói thuốc cũng được coi là liên quan mật thiết với ung thư, các bệnh hô hấp và bệnh lý tim mạch, và gây tác hại cho sức khỏe của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Ngoài việc gây bệnh, hút thuốc lá còn gây ra nhiều tác hại cho cơ thể như gây viêm nhiễm và làm suy giảm chức năng miễn dịch.

Khói thuốc lá là nguyên nhân gây ra 28 nhóm bệnh, trong đó điển hình là ung thư, tim mạch, hô hấp... Ảnh tư liệu
Ước tính cứ 2 người hút thuốc lá thì có 1 người sẽ chết sớm, trong đó 1/2 số ca tử vong xảy ra ở tuổi trung niên, trung bình làm mất đi từ 20 đến 25 năm thời gian làm việc.
Báo cáo tổng kết 13 năm thi hành Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá gửi Bộ Tư pháp thẩm định hồ sơ luật của dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại thuốc lá cho biết tại Việt Nam, theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới năm 2021, sử dụng thuốc lá đã và đang gây ra gánh nặng bệnh tật và tử vong sớm tại Việt Nam, với hơn 100.000 ca tử vong do thuốc lá mỗi năm (trong đó 84.500 người tử vong/năm do hút thuốc chủ động và 18.800 người tử vong do tiếp xúc thụ động với khói thuốc).
Bên cạnh đó, chi phí y tế và thiệt hại kinh tế do sử dụng thuốc lá rất lớn (108 nghìn tỷ đồng, tương đương 1,14% GDP năm 2022). Việc sử dụng các sản phẩm thuốc lá gây ảnh hưởng tiêu cực đối với phát triển kinh tế và xã hội, khó đạt được các mục tiêu y tế quốc gia của Việt Nam, cũng như cam kết đạt được các mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) liên quan đến sức khỏe.
Thuốc lá cũng là nguyên nhân làm cho rừng bị tàn phá và ô nhiễm môi trường. Hàng năm có khoảng 5% diện tích rừng bị phá để trồng cây thuốc lá cũng như lấy gỗ để sấy thuốc lá. Ước tính mỗi năm cần 18 tỷ cây xanh để làm củi sấy thuốc lá. Việc sử dụng thuốc lá thải ra môi trường mỗi năm khoảng từ 3.000 đến 6.000 tấn formaldehyde, từ 12.000 đến 47.000 tấn nicotine và từ 300 đến 600 triệu kg chất thải độc hại của các mẩu thuốc lá.
Riêng đối với quỹ BHYT, chi phí điều trị các bệnh liên quan đến thuốc lá lên tới 8,3 nghìn tỷ đồng năm 2019 và tăng lên 8,7 nghìn tỷ đồng vào năm 2022, chiếm khoảng 7,5% tổng chi từ quỹ. Bên cạnh đó, chi tiêu trực tiếp từ hộ gia đình cũng ở mức cao, với 7,7 nghìn tỷ đồng năm 2019 và 8,1 nghìn tỷ đồng năm 2022. Những con số này cho thấy, tác hại của thuốc lá không chỉ dừng lại ở lĩnh vực y tế mà còn lan rộng, ảnh hưởng đến an sinh xã hội và sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
Sự gia tăng nhanh chóng các sản phẩm thuốc lá mới khiến tỷ lệ sử dụng tăng lên
Tại Việt Nam, hút thuốc lá vẫn là hình thức sử dụng chủ yếu. Với việc ban hành Luật Phòng chống tác hại của thuốc lá và tổ chức thực hiện khá đồng bộ các giải pháp về Phòng chống tác hại của thuốc lá, tỷ lệ hút thuốc ở người trưởng thành có xu hướng giảm trong hơn một thập kỷ qua.
Theo kết quả điều tra và các nghiên cứu quốc gia, tỷ lệ sử dụng thuốc lá điếu ở nam giới trưởng thành giảm trung bình khoảng 0,5% mỗi năm, từ 47,4% năm 2010 xuống còn 38,9% năm 2023. Tỷ lệ hút thuốc ở thanh thiếu niên cũng giảm rõ rệt, từ 5,36% năm 2013 xuống 2,78% năm 2019 ở nhóm 13–17 tuổi, và từ 2,5% năm 2014 xuống 1,9% năm 2022 ở nhóm 13–15 tuổi.
Cùng với đó, tỷ lệ phơi nhiễm với khói thuốc lá thụ động đã giảm đáng kể ở tất cả các môi trường, bao gồm hộ gia đình, nơi làm việc và nơi công cộng.

Truyền thông về phòng chống tác hại của thuốc lá tại BVĐK Trà Vinh. Ảnh: Thái Bình
Giai đoạn 2010–2024 ghi nhận mức giảm rõ rệt tại nhà (từ 73,1% xuống 44,9%), nơi làm việc (từ 55,9% xuống 22,4%) và trên phương tiện giao thông công cộng (từ 34,4% xuống 22,9%). Những kết quả này phản ánh tác động tích cực của việc triển khai Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Tuy nhiên, các thành tựu trong kiểm soát thuốc lá điếu truyền thống đang đối mặt với nguy cơ bị suy giảm do sự gia tăng nhanh chóng của các sản phẩm thuốc lá mới, đặc biệt là thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng, nhất là trong giới trẻ.
Ở người trưởng thành, tỷ lệ sử dụng thuốc lá điện tử tăng mạnh từ 0,2% năm 2015 lên 3,6% năm 2020, tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi 15–24. Ở thanh thiếu niên, tỷ lệ sử dụng thuốc lá điện tử tăng nhanh, từ 2,6% năm 2019 lên 8,1% năm 2023 ở nhóm 13–17 tuổi, và từ 3,5% năm 2022 lên 8% năm 2023 ở nhóm 13–15 tuổi; đáng lưu ý, tỷ lệ sử dụng ở nữ giới 11–18 tuổi đạt khoảng 4,3% năm 2023.
Xu hướng này đặt ra thách thức mới đối với công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
