Trước thực tế này, cập nhật tiến bộ y học, cá thể hóa điều trị và mở rộng cơ hội tiếp cận dịch vụ hỗ trợ sinh sản được kỳ vọng giúp nhiều cặp vợ chồng tiến gần hơn đến ước mơ làm cha mẹ.
Trong hai ngày 31/10 và 1/11 tại Hà Nội, Hội Phụ sản Việt Nam phối hợp với Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội Hỗ trợ Sinh sản và Merck Healthcare Việt Nam tổ chức Hội nghị khoa học quốc tế Fertility acadeMe Conference 2026, với chủ đề "Đồng hành cá thể hóa từng hành trình: Cùng chạm đến ước mơ làm cha mẹ".
Hội nghị có sự tham dự của GS.TS.BS. Nguyễn Viết Tiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế, Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam, Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam; GS. Eileen Manalo, Phó Tổng thư ký Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội Hỗ trợ Sinh sản, cùng hơn 200 chuyên gia hỗ trợ sinh sản đến từ Việt Nam, khu vực châu Á - Thái Bình Dương và nhiều quốc gia trên thế giới.

GS.TS.BS. Nguyễn Viết Tiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế, Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam, Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam phát biểu. Ảnh: Nga Lê
Đây là diễn đàn khoa học chuyên sâu nhằm cập nhật những tiến bộ mới của y học sinh sản hiện đại, chia sẻ kinh nghiệm thực hành và tăng cường kết nối chuyên môn giữa các chuyên gia trong nước và quốc tế.
Vô sinh, hiếm muộn và mức sinh thấp: Những thách thức cần quan tâm
Vô sinh, hiếm muộn đang trở thành vấn đề sức khỏe sinh sản được quan tâm trên toàn cầu. Theo các số liệu được đề cập tại hội nghị, tỷ lệ vô sinh tích lũy suốt đời tại khu vực Tây Thái Bình Dương, bao gồm nhiều quốc gia châu Á - Thái Bình Dương, ước tính khoảng 23,2%, thuộc nhóm cao nhất trong các khu vực trên thế giới.
Tại Việt Nam, ước tính có hơn 1 triệu cặp vợ chồng gặp tình trạng vô sinh, hiếm muộn, với tỷ lệ khoảng 7,7%. Trong đó, vô sinh nguyên phát chiếm khoảng 3,9%, vô sinh thứ phát chiếm 3,8%; khoảng 50% số cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn ở độ tuổi dưới 30. Tình trạng vô sinh thứ phát cũng là vấn đề đáng lưu ý, ảnh hưởng đến nhiều gia đình đã từng có thai trước đó.
Trong khi đó, công tác dân số vẫn đối mặt với thách thức về duy trì mức sinh thay thế. Theo số liệu được cung cấp, tổng tỷ suất sinh của Việt Nam năm 2025 đạt 1,93 con/phụ nữ, tăng nhẹ so với mức 1,91 con năm 2024 nhưng vẫn thấp hơn mức sinh thay thế 2,1 con/phụ nữ. Mức sinh thấp trong thời gian dài có thể tác động đến cơ cấu dân số, nguồn lao động, tăng trưởng kinh tế và hệ thống an sinh xã hội.
Theo GS.TS.BS. Nguyễn Viết Tiến, tình trạng vô sinh muộn ngày càng gia tăng là thực tế đáng quan tâm, không chỉ tại Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Một trong những nguyên nhân là xu hướng kết hôn và sinh con muộn. Khi tuổi tăng, khả năng sinh sản của cả nam và nữ đều có thể suy giảm. Ở phụ nữ, tuổi tác ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng noãn; ở nam giới, chất lượng tinh trùng cũng có thể thay đổi theo tuổi và tình trạng sức khỏe.
Bên cạnh đó, một bộ phận người dân còn tâm lý chủ quan, cho rằng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ngày càng phát triển nên có thể trì hoãn việc sinh con mà không ảnh hưởng đáng kể đến cơ hội làm cha mẹ. GS.TS. Nguyễn Viết Tiến cho rằng đây là quan niệm cần được nhìn nhận thận trọng, bởi tiến bộ kỹ thuật không thể loại bỏ hoàn toàn những giới hạn sinh học của khả năng sinh sản.
Các yếu tố về bệnh lý, viêm nhiễm, lối sống và môi trường cũng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản. Việc sử dụng rượu bia, thuốc lá và tiếp xúc với môi trường độc hại có thể tác động bất lợi đến chất lượng giao tử; một số yếu tố còn liên quan đến tổn thương DNA tinh trùng và khả năng thụ thai.
Vì vậy, nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản, thăm khám sớm khi có dấu hiệu bất thường và chủ động tìm kiếm tư vấn y tế khi gặp khó khăn trong việc có con là những việc cần thiết. Theo GS.TS. Nguyễn Viết Tiến, phát hiện nguyên nhân và can thiệp sớm có thể giúp cải thiện cơ hội điều trị cho các cặp vợ chồng.

Các chuyên gia thảo luận tại Hội nghị khoa học quốc tế Fertility acadeMe Conference 2026. Ảnh: Nga Lê
Cá thể hóa điều trị, lấy người bệnh làm trung tâm
Trong bối cảnh nhu cầu điều trị vô sinh, hiếm muộn ngày càng được quan tâm, hỗ trợ sinh sản là lĩnh vực y khoa đòi hỏi sự phối hợp của nhiều chuyên ngành và liên tục cập nhật những tiến bộ khoa học, công nghệ.
Các phương pháp như thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI), trữ đông noãn và phôi cùng những kỹ thuật hỗ trợ chẩn đoán, theo dõi điều trị đã mở thêm cơ hội cho nhiều người bệnh. Tuy nhiên, hiệu quả điều trị không chỉ phụ thuộc vào kỹ thuật mà còn liên quan đến tuổi, nguyên nhân vô sinh, tình trạng sức khỏe, đặc điểm sinh sản và nhu cầu của từng người.
Với chủ đề "Đồng hành cá thể hóa từng hành trình: Cùng chạm đến ước mơ làm cha mẹ", Fertility acadeMe Conference 2026 nhấn mạnh cách tiếp cận lấy người bệnh làm trung tâm. Theo đó, việc lựa chọn phác đồ cần căn cứ vào đặc điểm riêng của từng trường hợp, hướng tới tối ưu hóa hiệu quả điều trị, hạn chế những can thiệp không cần thiết và cải thiện trải nghiệm của người bệnh trong suốt hành trình tìm kiếm cơ hội làm cha mẹ.
Tại hội nghị, GS. Eileen Manalo, Phó Tổng thư ký Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội Hỗ trợ Sinh sản, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp các yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội trong chăm sóc người bệnh. Cách tiếp cận toàn diện giúp người bệnh được chuẩn bị tốt hơn, tham gia tích cực hơn vào quá trình điều trị và có thêm sự hỗ trợ cần thiết trong hành trình vốn có thể kéo dài, nhiều áp lực.
Bà cũng đề cập đến việc cá thể hóa kích thích buồng trứng, đánh giá khả năng sinh sản theo tuổi, lựa chọn gonadotropin và vai trò của LH/FSH ở các nhóm bệnh nhân khác nhau. Đối với vô sinh nam, việc cải thiện phương pháp chẩn đoán, đánh giá nguyên nhân và lựa chọn biện pháp can thiệp phù hợp, từ điều trị nội tiết, không nội tiết đến phẫu thuật, là những nội dung được quan tâm.
Một nhóm chủ đề quan trọng khác là tối ưu hóa kết quả làm tổ và thai kỳ sớm, bao gồm đánh giá khả năng tiếp nhận của nội mạc tử cung, thất bại làm tổ lặp lại, sảy thai liên tiếp, hỗ trợ hoàng thể và tương tác giữa phôi với nội mạc tử cung. Những trao đổi này góp phần làm rõ cách tiếp cận điều trị dựa trên đặc điểm của từng người bệnh và bằng chứng khoa học.
Bên cạnh đó, hội nghị cập nhật những đổi mới trong y học sinh sản như ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), sử dụng dữ liệu thực tế trong đánh giá hiệu quả điều trị và các kỹ thuật phòng thí nghiệm đang phát triển.
Các chuyên gia cũng thảo luận về bảo tồn khả năng sinh sản, chăm sóc sức khỏe tinh thần, giảm tình trạng người bệnh bỏ dở điều trị và những yếu tố xã hội, chính sách ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ.

GS. Eileen Manalo, Phó Tổng thư ký Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội Hỗ trợ Sinh sản phát biểu.
Mở rộng cơ hội tiếp cận dịch vụ hỗ trợ sinh sản
Phát biểu tại hội nghị, GS.TS.BS. Nguyễn Viết Tiến cho biết trình độ chuyên môn và kỹ thuật điều trị vô sinh, hiếm muộn của Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể, tiệm cận với tiến bộ của thế giới. Việc các hội nghị khoa học quốc tế lớn được tổ chức tại Việt Nam, thu hút sự tham gia của nhiều chuyên gia hàng đầu, cũng tạo cơ hội để đội ngũ y tế trong nước trao đổi kiến thức, cập nhật phương pháp và tăng cường hợp tác chuyên môn.
Tuy nhiên, chi phí điều trị vẫn là gánh nặng đối với nhiều gia đình. Quá trình hỗ trợ sinh sản có thể cần nhiều bước thăm khám, xét nghiệm và can thiệp; kết quả không phải lúc nào cũng đạt được ngay trong chu kỳ đầu tiên. Điều này khiến không ít cặp vợ chồng gặp khó khăn về tài chính và tâm lý khi theo đuổi điều trị.
Từ thực tế đó, GS.TS. Nguyễn Viết Tiến bày tỏ mong muốn Nhà nước có thêm những chính sách hỗ trợ thiết thực, chẳng hạn hỗ trợ một phần chi phí thăm khám, xét nghiệm ban đầu hoặc một phần chi phí của chu kỳ điều trị đầu tiên. Theo ông, nếu có sự chung tay của Nhà nước và xã hội, các cặp vợ chồng hiếm muộn sẽ có thêm động lực và cơ hội tiếp cận dịch vụ y tế.

Quang cảnh hội nghị. Ảnh: Nga Lê
GS.TS. Nguyễn Viết Tiến cũng cho rằng cần nhìn nhận chăm sóc sức khỏe sinh sản là một lĩnh vực quan trọng đối với hạnh phúc gia đình và chất lượng dân số. Trong điều kiện phát triển hiện nay, việc xây dựng các chính sách hỗ trợ phù hợp, tạo điều kiện để người dân tiếp cận dịch vụ chuyên môn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe sinh sản.
