Qua môi giới quen biết, tôi và vài người bạn khác đã được anh N.V.M. thu nhận làm lao động xuất khẩu tại Hàn Quốc. Vì tin tưởng chúng tôi đã nộp một khoản tiền lớn cho anh M. là tiền đặt cọc để hy vọng sớm được xuất ngoại, nhưng đã hơn 2 năm qua không thấy anh ta đả động gì. Chúng tôi tìm gặp thì anh trốn tránh. Vậy việc một cá nhân có được quyền thu nhận người đi xuất khẩu lao động (XKLĐ) không? Và có những hình thức nào đưa người đi lao động xuất khẩu?
Lương Minh Phương (Kim Bảng, Hà Nam)
Trả lời:
"Điều 6, Luật số 72/2006/QH11 về việc quy định người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng do Quốc hội ban hành năm 2006 thì cá nhân có dự án đầu tư ra nước ngoài được đưa người đi làm việc tại cơ sở sản xuất, kinh doanh do chính cá nhân đó đầu tư thành lập ở nước ngoài và đảm bảo các điều kiện sau:
1. Được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho phép;
2. Chỉ được đưa người lao động đi làm việc tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh do cá nhân đầu tư thành lập ở nước ngoài;
3. Có phương án sử dụng và quản lý người lao động ở nước ngoài; có phương án tài chính đưa người lao động về nước trong trường hợp bất khả kháng;
4. Bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người lao động làm việc tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh do cá nhân đầu tư thành lập ở nước ngoài phù hợp với pháp luật của nước mà người lao động đến làm việc và pháp luật Việt Nam.
Các hình thức đi làm việc ở nước ngoài được quy định tại Điều 31, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng như sau:
1. Hợp đồng với doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài;
2. Hợp đồng với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài;
3. Hợp đồng với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc dưới hình thức thực tập nâng cao tay nghề;
4. Hợp đồng cá nhân.
XH-BĐ