Cả chất và lượng đang có những thay đổi tích cực

Thời sự
Hạn chế tình trạng quá tải bệnh viện; Nâng cao năng lực tuyến y tế cơ sở; Đẩy mạnh xã hội hóa công tác KCB... Nhìn lại gần một năm thực hiện Chỉ thị 06, ngành y tế đã có những thay đổi tích cực để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Ngày 7/12/2007, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu đã ban hành Chỉ thị số 06/2007/CT-BYT về việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh (KCB) cho nhân dân, trong đó tập trung vào một số công tác trọng tâm như: Hạn chế tình trạng quá tải bệnh viện; Nâng cao năng lực tuyến y tế cơ sở; Đẩy mạnh xã hội hóa công tác KCB... Nhìn lại gần một năm thực hiện Chỉ thị 06, ngành y tế đã có những thay đổi tích cực để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Tập trung thực hiện 4 nhiệm vụ trọng tâm

Theo nội dung Chỉ thị số 06/2007/CT-BYT nêu rõ: Để từng bước nâng cao chất lượng KCB, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của nhân dân, Bộ trưởng Bộ Y tế chỉ thị cho Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc, Giám đốc Sở Y tế các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương, thủ trưởng y tế các ngành thực hiện ngay một số nhiệm vụ như: hạn chế tình trạng quá tải BV, trước mắt, các BV cần bố trí, sắp xếp lại nơi làm việc hợp lý tạo thêm buồng bệnh điều trị; tăng cường phối hợp với các BV trong khu vực để điều trị người bệnh; xây dựng lịch làm việc và bố trí cán bộ hợp lý, cải tiến quy trình, thủ tục khám bệnh để rút ngắn thời gian chờ khám bệnh và làm xét nghiệm cận lâm sàng; nâng cao hiệu quả điều trị nhằm rút ngắn thời gian điều trị nội trú, tăng cường điều trị ngoại trú; bảo đảm cung ứng thuốc, vật tư tiêu hao phục vụ người bệnh, không để người bệnh phải mua thêm thuốc, vật tư tiêu hao trong thời gian điều trị nội trú.

Giám đốc BV tuyến Trung ương tham mưu cho Bộ Y tế, Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tham mưu cho UBND tỉnh, thành phố xây dựng kế hoạch giường bệnh bảo đảm nhu cầu KCB của nhân dân, cụ thể: Phấn đấu đến năm 2009, các bệnh viện giảm tình trạng người bệnh phải nằm ghép xuống dưới 10%. Đến hết năm 2010 cơ bản không còn người bệnh nằm ghép (trừ khi có thiên tai, dịch bệnh, thảm họa hàng loạt...); Nâng cao năng lực tuyến y tế cơ sở, trong đó Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biện pháp bổ sung nhân lực, trang thiết bị y tế để nâng cao năng lực y tế tuyến cơ sở đặc biệt là tuyến quận, huyện; Thực hiện tốt quy chế vào viện, ra viện, chuyển viện góp phần giảm tải cho các BV tuyến trên. Hàng năm các bệnh viện phải xây dựng kế hoạch chỉ đạo tuyến rõ ràng, cụ thể, phù hợp cho từng BV, tập trung vào công tác đào tạo, chuyển giao kỹ thuật theo phương thức "đồng bộ, tại chỗ". Tăng cường hợp tác giữa các BV, giữa các tuyến; xây dựng và triển khai mô hình bệnh viện vệ tinh; BV ban ngày, chăm sóc tại nhà, bác sĩ gia đình (để góp phần giảm quá tải).

Mở rộng khu khám bệnh giúp Bệnh viện Bạch Mai bước đầu giảm tải. Ảnh: TH
 
Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hoá công tác KCB, BV cần tăng cường thực hiện có hiệu quả Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ; chủ động huy động các nguồn vốn thông qua xã hội hoá công tác KCB dưới nhiều hình thức như: liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong việc hiện đại hóa BV, đào tạo cán bộ có trình độ chuyên môn cao, cải tạo cơ sở hạ tầng, nâng cấp trang thiết bị y tế theo quy định nhằm đáp ứng nhu cầu KCB ngày càng cao của nhân dân trong điều kiện nguồn ngân sách còn hạn chế. Khuyến khích và tạo điều kiện để phát triển hệ thống BV tư nhân. Phấn đấu đến năm 2010 các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có ít nhất 02 giường bệnh tư nhân/10.000 dân. Đồng thời nâng cao y đức trong các cơ sở KCB, công tác giáo dục y đức cho cán bộ y tế phải được thực hiện thường xuyên. Đưa nội dung cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" mà trọng tâm là học tập làm theo lời Bác "Thầy thuốc như mẹ hiền" vào sinh hoạt thường kỳ của đơn vị. Cán bộ y tế phải làm tốt chuyên môn nghiệp vụ của mình, thực hiện nghiêm các quy chế chuyên môn, đặc biệt chú ý thái độ trong giao tiếp với người bệnh và người nhà người bệnh. Không lạm dụng thuốc, xét nghiệm cận lâm sàng, dịch vụ kỹ thuật cao gây tốn kém không cần thiết cho người bệnh, đặc biệt là những bệnh nhân KCB bằng BHYT. Chấn chỉnh và duy trì hoạt động có hiệu quả đường dây nóng. Số điện thoại đường dây nóng phải được công khai tại những nơi mọi người dân dễ dàng nhận thấy; Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm quy chế chuyên môn trong các cơ sở KCB. Khen thưởng thích đáng về tinh thần và vật chất cho các tập thể và cá nhân có thành tích.

Giảm tải bắt đầu từ tuyến Trung ương

Ngay sau khi Chỉ thị số 06 được ban hành, đến thời điểm này, hầu hết các BV đã và đang nỗ lực bằng mọi nguồn lực và nội lực để thực hiện công tác nâng cao chất lượng KCB. Theo ghi nhận của chúng tôi tại BV Bạch Mai, là BV tuyến cuối, bệnh nhân đến KCB tại BV Bạch Mai không chỉ là những bệnh nhân nặng, BV còn tiếp nhận nhiều bệnh nhân ở các tỉnh và Hà Nội. Vì thế tình trạng quá tải luôn là trăn trở của lãnh đạo BV. Trước thực trạng quá tải, BV đã tổ chức sắp xếp lại quy trình khám bệnh theo một chiều nhằm giảm bớt phiền hà cho người bệnh. Tăng cường mô hình điều trị ngoại trú, điều trị ban ngày nhằm giảm bớt bệnh nhân không cần thiết phải điều trị nội trú. Bên cạnh đó, BV cũng xây dựng và mở rộng thêm các đơn vị, đa dạng hóa hình thức KCB, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân. BV đã đưa vào hoạt động Khoa khám bệnh theo yêu cầu với số lượng khoảng 5.000 bệnh nhân được khám trong mỗi tháng. Về kế hoạch lâu dài, BV Bạch Mai đang xin phép để xây dựng thêm cơ sở 2 để giảm quá tải bệnh nhân như hiện nay.

Tại BV Nhi TW, trước tình trạng quá tải ở một số khoa luôn gấp 2, gấp 3 lần, như Khoa sơ sinh, Khoa hô hấp... BV đã cải tạo và tăng số buồng khám tại Khoa khám bệnh từ 20 buồng lên 32 buồng, điều động bác sĩ, y tá từ các khoa phòng ra Khoa khám bệnh. Lợi ích của việc này là giải quyết bệnh nhân khám chung đỡ ùn tắc vào giờ cao điểm. BV cũng có chủ trương giảm bệnh nhân nhập viện điều trị nội trú bằng cách thường xuyên kiểm tra các khoa có tình trạng quá tải để có thông tin về những bệnh nhân không thực sự cần thiết điều trị nội trú. Từ đó có thể cho chuyển về tuyến dưới, hoặc cho xuất viện hay điều chỉnh bệnh nhân giữa các khoa.

Còn tại BV Thanh Nhàn, ông Đặng Văn Chính, GĐ BV Thanh Nhàn cho biết: Quyết định đầu tiên để giảm tải tình trạng bệnh nhân phải nằm ghép 2, 3 người một giường bắt đầu từ việc thu hẹp các khu vực hội trường lớn, nơi không sử dụng hết công suất, từ ý tưởng đó, hơn 20 giường bệnh mới được tận dụng kê ngay trong hội trường, nâng tổng số giường của Khoa chạy thận nhân tạo lên 34 chiếc, đã làm giảm tải đáng kể cho khoa này. BV Thanh Nhàn được TP. Hà Nội giao 460 giường bệnh, nhưng thực kê thường dao động trên dưới 600 giường. Để làm được điều này có hiệu quả, trước khi tiến hành kê thêm giường, BV làm từng bước một, khoa nào đông bệnh nhân làm trước, rồi tiến hành rút kinh nghiệm để các khoa sau tiếp tục làm.

Từ thực tiễn của BV Thanh Nhàn, ông Chính cho rằng vấn đề cốt lõi là chính mỗi BV phải nâng cao chất lượng điều trị, ứng dụng khoa học kỹ thuật và áp dụng công nghệ thông tin... một cách đồng bộ. Bên cạnh đó, Giám đốc BV còn phải là nhà kinh tế học, nhà tổ chức. Khi đông bệnh nhân phải biết tăng cường giường ở đâu, điều động người ra sao... bởi nếu không sẽ gây lãng phí con người và tiền của mà bệnh nhân lại không được hưởng lợi.

Tại TP.HCM, để giải quyết tình trạng quá tải tại các BV trung tâm thành phố, BS. Nguyễn Văn Châu, Giám đốc Sở Y tế TP.HCM cho biết: Ngành y tế TP.HCM đang phối hợp nhiều giải pháp, như: phát triển BV cửa ngõ, mở rộng cơ sở 2 của các BV lớn, củng cố BV tuyến quận, huyện... Nhưng làm sao đế các BV ở cấp quận, huyện đủ tin cậy để người dân không chuyển đến các tuyến cao hơn. Bên cạnh đó để nâng cao uy tín hệ thống y tế cơ sở, ngành y tế TP.HCM sẽ hình thành mô hình liên kết giữa các BV. BV lớn, chuyên sâu sẽ chia sẻ "thương hiệu" của mình với các BV quận, huyện.

TP cũng đang có kế hoạch tổ chức xây dựng 5 BV của 4 cụm Đông - Tây - Nam - Bắc, tổng cộng 4.500 giường bệnh có thể sẽ triển khai đến năm 2010 nhằm giảm tải cho các BV trong trung tâm TP.

Đầu tư cho y tế tuyến huyện

Theo Bộ Y tế, hiện tại tổng số giường bệnh của BV tuyến huyện, liên huyện và trung tâm y tế huyện có khoảng 57.862 giường bệnh, chiếm khoảng 50% tổng số giường bệnh. Cũng theo Bộ Y tế, khoảng 65% người dân sử dụng các dịch vụ y tế nội trú tại tuyến huyện. Con số này cho thấy BV tuyến huyện đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ KCB cho nhân dân, nhất là người dân nghèo ở khu vực miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa... Xuất phát từ những thực tế đó, trên cơ sở đề án của Bộ Y tế, ngày 2/4, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án đầu tư xây dựng, cải tạo và nâng cấp BV tuyến huyện và BV đa khoa khu vực liên huyện sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ và các nguồn vốn hợp pháp khác... Theo đó sẽ có 552 BV tuyến huyện, 69 BV đa khoa khu vực liên huyện được đầu tư xây dựng, cải tạo và nâng cấp với tổng kinh phí 17.000 tỷ đồng...

Tại các buổi làm việc với lãnh đạo và giám đốc Sở Y tế các tỉnh, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu nhấn mạnh, để thực hiện có hiệu quả quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Sở Y tế các địa phương cần tham mưu cho UBND tỉnh khẩn trương kiện toàn Ban chỉ đạo triển khai đề án; cải cách thủ tục hành chính để sớm đẩy nhanh tiến độ giải ngân nguồn vốn; phân bổ nguồn vốn phải tập trung để nhanh chóng hoàn thiện công trình theo hướng đồng bộ vừa xây dựng cơ sở vật chất vừa đấu thầu, lắp đặt trang thiết bị... Bên cạnh đó, cần có kế hoạch đào tạo, đào tạo lại và nâng cao trình độ cán bộ y tế để phù hợp với trang thiết bị được đưa vào sử dụng...

Cũng theo ghi nhận của chúng tôi, hầu hết lãnh đạo Sở Y tế các tỉnh đều khẳng định, đề án chính là cơ hội vàng để y tế tuyến cơ sở đổi mới đồng bộ, hiện đại, nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu của người dân địa phương và góp phần giảm tải cho tuyến trên.

 Hội trường Bệnh viện Thanh Nhàn đã được cải tạo thành Khoa chạy thận nhân tạo.
Đẩy mạnh xã hội hóa công tác KCB

Xã hội hóa y tế và tự chủ BV đang được coi là một trong những yếu tố then chốt để ngành y tế giải bài toán quá tải BV hiện nay. Chỉ thị 06/2007/CT-BYT cũng nêu rõ: Bệnh viện cần tăng cường thực hiện có hiệu quả Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ; chủ động huy động các nguồn vốn thông qua xã hội hóa công tác KCB dưới nhiều hình thức như: liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong việc hiện đại hoá bệnh viện, đào tạo cán bộ có trình độ chuyên môn cao, cải tạo cơ sở hạ tầng, nâng cấp trang thiết bị y tế theo quy định nhằm đáp ứng nhu cầu KCB ngày càng cao của nhân dân trong điều kiện nguồn ngân sách còn hạn chế.

Bộ trưởng Nguyễn Quốc Triệu cho biết, để các BV thực hiện tốt Nghị định này, các đơn vị, BV sẽ phải chịu trách nhiệm về việc tự chủ đăng ký giường bệnh, cân đối, huy động vốn, liên doanh, liên kết với bên ngoài để phục vụ công tác KCB. Bộ Y tế sẽ tiếp tục tạo cơ chế mở để khuyến khích và phát triển loại hình y tế tư nhân.

Thực hiện công tác xã hội hóa y tế nên trong thời gian qua, số lượng các cơ sở y tế tư nhân đã phát triển rất mạnh. Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế, đến thời điểm này, cả nước đã có 67 BV tư nhân, hơn 300 phòng khám đa khoa và trên 30.000 cơ sở hành nghề y tế tư nhân, trung bình mỗi năm các cơ sở này KCB cho trên 3 triệu lượt người, góp phần không nhỏ cho việc giảm quá tải ở các cơ sở y tế công lập.
 

Tăng tỷ lệ chi ngân sách hằng năm cho y tế

*Sau khi xem xét Báo cáo số 65/BC-CP ngày 05/5 /2008 của Chính phủ và Báo cáo kết quả giám sát số 118/BC-UBTVQH12 ngày 13/5/2008 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thực hiện chính sách, pháp luật về xã hội hóa công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân và ý kiến của đại biểu Quốc hội, ngày 3/6/2008 Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 18/2008/NQ-QH12 về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật xã hội hoá để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Một trong những nội dung quan trọng được đề cập đến trong Nghị quyết là: "Tăng tỷ lệ chi ngân sách hằng năm cho sự nghiệp y tế, bảo đảm tốc độ tăng chi cho y tế cao hơn tốc độ tăng chi bình quân chung của ngân sách nhà nước. Dành ít nhất 30% ngân sách y tế cho y tế dự phòng. Quan tâm dành ngân sách cho chăm sóc sức khỏe người có công, người nghèo, nông dân, đồng bào dân tộc thiểu số, nhân dân ở vùng kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn". Nghị quyết cũng nêu rõ việc đầu tư nâng cấp bệnh viện đa khoa huyện và đa khoa khu vực liên huyện cần phải hoàn thành vào năm 2010 và cần có các giải pháp để kiểm soát hiệu quả sử dụng ngân sách cho y tế.

*Tại hội nghị giao ban các BV ngày 31/8/2007, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu đã yêu cầu các cơ sở y tế cần triển khai một số giải pháp để giải quyết tình trạng quá tải. Trước hết, các bệnh viện cần tận dụng các khu vực có hiệu suất sử dụng thấp để kê thêm giường bệnh nội trú; xây dựng, mở rộng khu điều trị nội trú và khu kỹ thuật. Giải pháp tiếp theo là Nhà nước và tư nhân cùng góp vốn xây dựng cơ sở hạ tầng. Thứ ba, các bệnh viện tăng cường hình thức điều trị ban ngày, điều trị ngoại trú; bố trí KCB ngoài giờ, KCB vào ngày nghỉ; mở rộng việc liên thông các BV trong điều trị. Thứ tư, ứng dụng công nghệ thông tin, rà soát quy trình KCB làm giảm thời gian chờ đợi của bệnh nhân tại các BV. Giải pháp lâu dài cần thực hiện nhằm giảm tình trạng quá tải BV là: hoàn thiện quy hoạch mạng lưới KCB, tăng số giường bệnh trên đầu dân, xây dựng thêm các BV mới; tăng cường đầu tư cho hệ thống BV tuyến tỉnh, tuyến huyện và đầu tư cho y tế cơ sở bằng cách bổ sung nhân lực, trang thiết bị và nâng cao chất lượng chuyên môn...

Nguyễn Thắng


Ý kiến của bạn