Nhu cầu sinh con, nhất là con trai của các cặp vợ chồng vùng biển còn cao. Chất lượng dân số thấp, số trẻ em sinh ra bị dị tật, dị dạng và thiểu năng trí tuệ còn đáng lo ngại. Đây là những vấn đề cần sớm được giải quyết nhằm tạo nguồn nhân lực có chất lượng góp phần vào thành công của Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020.
Sự cần thiết của Đề án
Các vùng biển, đảo và ven biển hiện nay có quy mô dân số hơn 29 triệu người, chiếm khoảng 34,6% dân số cả nước, mật độ dân số 373 người/ km2, gấp 1,5 lần mật độ dân số trung bình của cả nước. Tỷ suất sinh, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của các huyện đảo và ven biển cao hơn các huyện khác trong cùng tỉnh và cao hơn mức bình quân của cả nước. Đặc biệt, khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ có tới 13/28 tỉnh, thành phố ven biển (chiếm khoảng 44% dân số biển) chưa đạt mức sinh thay thế, trong khi cả nước từ năm 2006 đã đạt mức sinh thay thế (dưới 2,1 con).
Tuyên truyền dân số KHHGĐ. Ảnh: Trần Minh |
Chương trình mục tiêu quốc gia DS-KHHGĐ tuy đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, dù không tách rời các vùng biển, đảo và ven biển nhưng cũng chưa tính đến việc giải quyết những đặc thù riêng về địa lý, KT–XH và tập quán khác nhau của người dân sinh sống tại vùng này. Người dân vùng biển, đảo và ven biển chưa có nhiều cơ hội và điều kiện được tiếp cận và hưởng thụ đầy đủ các chính sách, dịch vụ xã hội cơ bản, trong đó có các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, SKSS/KHHGĐ.
Bà Hoàng Thị Tâm, Phó Giám đốc Sở Y tế kiêm Chi cục trưởng Chi cục DS - KHHGĐ tỉnh Thừa Thiên Huế cho biết: “Mặc dù nhiều năm qua, Sở luôn tăng cường đẩy mạnh truyền thông về dân số, SKSS/KHHGĐ cho nhóm đối tượng đặc thù là cư dân vạn đò, đầm phá ven biển nhằm giảm nhanh tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên, hướng đến việc chuyển đổi hành vi bền vững. Tuy nhiên do trình độ dân trí nơi đây thấp, tư tưởng sinh con trai vẫn còn nặng nề đã gây khó khăn trong công tác tuyên truyền vận động cũng như cung cấp các dịch vụ. Vì vậy, Đề án Kiểm soát dân số các vùng biển, đảo và ven biển 2009 -2020 (Đề án 52) là vô cùng cần thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu về DS-KHHGĐ, góp phần phát triển kinh tế, xã hội”.
Lấp đầy những khoảng trống
Theo thống kê, tỷ lệ dân số vùng biển nước ta có khoảng 29,2 triệu người, trong đó phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ khoảng 8,3 triệu người, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có chồng khoảng 5,1 triệu người. Điều dễ nhận thấy như một “đặc trưng” của dân số vùng biển đảo, đó là tỷ suất sinh, tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên của các huyện đảo và ven biển luôn cao hơn các huyện khác trong cùng tỉnh và cao hơn mức bình quân của cả nước, nhất là ở khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ. Theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê năm 2006 thì hiện vẫn còn 13/28 tỉnh, thành ven biển chưa đạt mức sinh thay thế, nhu cầu sinh con trai vẫn còn phổ biến. Bên cạnh đó, việc dân di cư đến các vùng biển để lao động, sinh sống ngày càng đông. Nếu như năm 2000, mật độ dân số là 339 người/km2 thì 6 năm sau, mật độ đã là 373 người/km2 (trong thời gian đó, mật độ dân số chung của cả nước chỉ tăng từ 234 lên 254 người/km2). Một bất cập nữa là tỷ suất chết mẹ, tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn, tỷ lệ mắc các bệnh viêm nhiễm đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục của phụ nữ vùng biển còn cao. Sở dĩ có hiện trạng đó là do đa số các phụ nữ chuẩn bị kết hôn hoặc trước khi sinh phải sống trong môi trường biển ngập mặn chưa được tư vấn, khám để ngăn ngừa những yếu tố nguy cơ cao ảnh hưởng trực tiếp đến sự mang thai và chất lượng bào thai. Trong khi đó, cơ sở vật chất, mạng lưới cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ ở cấp xã còn thiếu và yếu, chưa phù hợp với đặc điểm môi trường và khí hậu biển, không bền vững. Một số xã ven biển, đảo chưa có trạm y tế, 19,7% trạm y tế xã chưa có bác sĩ.
Nhiều năm qua, dù các cấp, ngành đã có những nỗ lực, cố gắng nhưng vấn đề chăm sóc SKSS/KHHGĐ tại vùng biển vẫn còn hạn chế, bất cập. Nhận thức của người dân vùng biển, đảo về việc chăm sóc sự phát triển của bào thai và trẻ sơ sinh còn hạn chế. Các kiến thức về sinh sản, phòng ngừa các yếu tố có nguy cơ cao ảnh hưởng đến chất lượng giống nòi ở mức rất khiêm tốn. Đáng chú ý, phần lớn cán bộ y tế cấp cơ sở còn thiếu về số lượng, hạn chế về năng lực nên việc tổ chức cung cấp các dịch vụ SKSS/KHHGĐ tại vùng biển, đảo chưa được thường xuyên và chất lượng. Với sự hình thành các khu kinh tế biển như hiện nay, việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người dân, nhất là lao động nhập cư được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, SKSS/KHHGĐ theo nhận định là sẽ trở nên quá tải.
Việc triển khai Đề án 52 (Kiểm soát dân số các vùng biển đảo, ven biển) sẽ là một giải pháp quan trọng, thiết thực nhằm thực hiện thành công chính sách, chiến lược dân số và chiến lược biển đến năm 2020... Đề án 52 giúp người dân vùng biển đảo, ven biển tiếp cận được các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, chăm sóc SKSS/KHHGĐ; Phòng, chống bệnh lây truyền qua đường tình dục, phòng ngừa mang thai ngoài ý muốn; Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác truyền thông về dân số, SKSS và KHHGĐ. Phấn đấu đến năm 2020 có 75% các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại các vùng biển, đảo và ven biển thực hiện các biện pháp tránh thai. Tỷ lệ người làm việc và sinh sống trên đảo, ven biển được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, chăm sóc sức khỏe sinh sản, KHHGĐ đạt 80% vào năm 2015 và 90% vào năm 2020...
Thanh Lan