Thống nhất quản lý, khai thác dữ liệu báo cáo
Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế, TS.BS Vũ Mạnh Hà vừa ký quyết định Ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng, kết nối, chia sẻ, bảo đảm an ninh mạng của Hệ thống thông tin báo cáo của Bộ Y tế.
Quy chế quy định cụ thể các nguyên tắc, trách nhiệm và quy trình quản lý, vận hành, kết nối, chia sẻ, cập nhật, khai thác, sử dụng dữ liệu; xử lý sự cố kỹ thuật và bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng đối với Hệ thống thông tin báo cáo của Bộ Y tế.
Đối tượng áp dụng gồm các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ Y tế; Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các cơ sở y tế và đơn vị liên quan trên toàn quốc tham gia cung cấp số liệu báo cáo ngành Y tế.
Quy chế cũng áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác được cấp quyền truy cập, cung cấp và khai thác dữ liệu trên Hệ thống thông tin báo cáo của Bộ Y tế.

Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng, Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Vũ Mạnh Hà chủ trì cuộc họp kiểm tra, đôn đốc và thống nhất tiến độ hoàn thiện Kế hoạch triển khai Hệ thống thông tin báo cáo của Bộ Y tế. Ảnh: Trần Minh
Theo Bộ Y tế, Hệ thống thông tin báo cáo của Bộ Y tế là hệ thống tập trung của ngành Y tế, có chức năng thu thập, tổng hợp và cung cấp số liệu báo cáo theo quy định của Bộ Y tế, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.
Hệ thống được triển khai trên toàn quốc, từ cấp xã, cấp tỉnh đến cấp Trung ương; đồng thời kết nối, liên thông dữ liệu báo cáo với Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ và các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chuyên ngành có liên quan.
Một trong những nguyên tắc quan trọng được đặt ra trong Quy chế là ưu tiên tự động tiếp nhận, tổng hợp dữ liệu thông qua kết nối, chia sẻ dữ liệu điện tử từ các cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin chuyên ngành của Bộ Y tế, qua đó hạn chế tối đa việc nhập liệu và báo cáo trùng lặp.
Hệ thống có chức năng tạo lập dữ liệu phục vụ hoạt động báo cáo nhưng không thay thế chức năng quản lý, tạo lập dữ liệu gốc của các hệ thống, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Dữ liệu báo cáo phải bảo đảm yêu cầu "đúng, đủ, sạch, sống", tức chính xác, đầy đủ, kịp thời, có khả năng đối soát và xác định rõ nguồn gốc.
Phân quyền khai thác gắn với trách nhiệm bảo mật
Quy chế quy định rõ việc phân quyền khai thác và sử dụng dữ liệu theo thẩm quyền, mục đích công vụ, đồng thời yêu cầu tuân thủ nghiêm các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, an toàn thông tin mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Theo đó, lãnh đạo Bộ Y tế được khai thác toàn bộ dữ liệu báo cáo thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế.
Các Vụ, Cục thuộc Bộ được khai thác toàn bộ dữ liệu của các chế độ báo cáo do đơn vị mình quản lý, cũng như các dữ liệu báo cáo do đơn vị khác thuộc Bộ chia sẻ.
Sở Y tế các tỉnh, thành phố được khai thác toàn bộ dữ liệu của các đơn vị thuộc phạm vi quản lý, dữ liệu báo cáo và các dữ liệu báo cáo do Bộ Y tế chia sẻ.
Đối với các đơn vị cung cấp, nhập liệu báo cáo, việc khai thác dữ liệu được thực hiện trong phạm vi dữ liệu báo cáo của chính đơn vị mình.
Bộ Y tế cũng yêu cầu dữ liệu được trích xuất từ Hệ thống khi sử dụng trong các báo cáo, công trình nghiên cứu chính thức phải ghi rõ nguồn: "Hệ thống thông tin báo cáo của Bộ Y tế".
Đặc biệt, mọi hoạt động khai thác dữ liệu có chứa thông tin cá nhân phải tuân thủ nghiêm ngặt Luật Dữ liệu và các quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Bảo đảm hệ thống hoạt động an toàn, liên tục
Về hạ tầng, Quy chế quy định hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng công nghệ thông tin của Hệ thống được triển khai tại Trung tâm dữ liệu Bộ Y tế do Trung tâm Thông tin Y tế Quốc gia quản lý, vận hành, đáp ứng yêu cầu hoạt động liên tục 24/24 giờ.
Đơn vị quản trị, vận hành máy chủ phải bố trí cán bộ chuyên môn theo dõi thường xuyên nhằm kịp thời phát hiện, xử lý và khắc phục sự cố nếu phát sinh.
Hệ thống được triển khai các giải pháp bảo đảm an toàn thông tin theo cấp độ được phê duyệt, phù hợp với quy định tại Nghị định số 85/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ về bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ.
Bộ Y tế yêu cầu Hệ thống phải được kiểm tra, đánh giá an toàn thông tin định kỳ tối thiểu một lần mỗi năm hoặc theo yêu cầu đột xuất của cấp có thẩm quyền.
Nội dung đánh giá bao gồm kiểm tra, đánh giá việc tuân thủ quy định của pháp luật; đánh giá hiệu quả của các biện pháp bảo đảm an toàn thông tin; phát hiện mã độc, lỗ hổng, điểm yếu và thử nghiệm xâm nhập.
Kết quả đánh giá là căn cứ để xây dựng kế hoạch nâng cao mức độ an toàn thông tin của Hệ thống, qua đó chủ động phòng ngừa rủi ro và tăng khả năng ứng phó trước các sự cố an ninh mạng.
Sao lưu dữ liệu hằng ngày, kiểm tra phục hồi định kỳ
Quy chế đồng thời đặt ra các yêu cầu cụ thể đối với việc lưu trữ, quản lý và bảo vệ dữ liệu của Hệ thống theo quy định của pháp luật và các quy định nội bộ về bảo đảm an toàn thông tin.
Bộ Y tế giao đơn vị quản trị Hệ thống xây dựng và thực hiện kế hoạch sao lưu dữ liệu hằng ngày đối với cơ sở dữ liệu, tệp cấu hình, nhật ký hệ thống và các dữ liệu quan trọng khác.
Việc sao lưu phải được thực hiện tự động hoặc theo lịch, có kiểm tra kết quả và ghi nhật ký đầy đủ, bảo đảm khả năng theo dõi và kiểm soát quá trình sao lưu.
Bản sao lưu phải được lưu trữ trên thiết bị hoặc hệ thống lưu trữ riêng biệt với hệ thống vận hành chính. Đối với dữ liệu nhạy cảm, phải áp dụng các biện pháp bảo vệ phù hợp như phân quyền truy cập, mã hóa dữ liệu; đồng thời kiểm tra tính toàn vẹn của bản sao lưu và bảo đảm khả năng phục hồi khi cần thiết.
Định kỳ 6 tháng hoặc khi có yêu cầu, đơn vị quản trị Hệ thống phải tổ chức kiểm tra, thử nghiệm việc phục hồi dữ liệu. Hoạt động này nhằm đánh giá khả năng đáp ứng của phương án sao lưu, phục hồi và kịp thời khắc phục những tồn tại, hạn chế.
Việc truy cập, sử dụng, sao chép, phục hồi hoặc hủy các bản sao lưu chỉ được thực hiện bởi người được phân công, phân quyền. Các hoạt động này phải được ghi nhận đầy đủ nhằm phục vụ công tác kiểm tra, giám sát và truy vết khi cần thiết.
