Phát biểu tại buổi lễ khai mạc Tuần lễ ngành nước Việt Nam - Vietnam Water Week 2026, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Bùi Xuân Dũng cho biết cấp nước sạch, thoát nước và xử lý nước thải là những dịch vụ thiết yếu, liên quan trực tiếp đến sức khỏe người dân, chất lượng đô thị, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường.
Trong khi đô thị hóa và nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng, ngành nước đang phải đối mặt với nhiều rủi ro từ biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn, mưa cực đoan, ngập úng và ô nhiễm nguồn nước.
Theo Thứ trưởng, những vấn đề này đòi hỏi ngành nước phải từng bước chuyển từ xử lý sự vụ sang quản trị rủi ro; từ đầu tư riêng lẻ sang phát triển hệ thống đồng bộ, có tính kết nối.

Thứ trưởng Bộ Xây dựng Bùi Xuân Dũng phát biểu tại buổi lễ khai mạc Tuần lễ ngành nước Việt Nam - Vietnam Water Week 2026. (Ảnh Thành Long)
Chuyển đổi số ngành nước, dữ liệu phải đi trước công nghệ
Về thể chế, Thứ trưởng Bùi Xuân Dũng cho biết Bộ Xây dựng đang nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về cấp, thoát nước. Ngày 22/6/2026, Bộ đã ban hành Quyết định số 971/QĐ-BXD về Kế hoạch xây dựng Luật Cấp, thoát nước và đang lấy ý kiến các cơ quan quản lý, địa phương, hiệp hội, doanh nghiệp, chuyên gia, nhà khoa học.
Đối với chuyển đổi số, Thứ trưởng nhấn mạnh yêu cầu triển khai theo hướng thực chất, lấy dữ liệu làm nền tảng cho quản lý và vận hành.
Trong năm 2026, Bộ Xây dựng đã ban hành Khung kiến trúc dữ liệu; Khung quản trị, quản lý dữ liệu Bộ Xây dựng và Từ điển dữ liệu dùng chung ngành xây dựng phiên bản 1.0.
Theo Thứ trưởng, với ngành nước, số hóa cần gắn với quản trị tài sản, dự báo nhu cầu sử dụng nước, kiểm soát thất thoát, tối ưu hóa năng lượng, giám sát chất lượng nước, cảnh báo sự cố và nâng cao chất lượng phục vụ người dân.
"Cùng với đầu tư công nghệ, cần chú trọng chuẩn hóa dữ liệu, khả năng kết nối giữa các hệ thống, an toàn thông tin và an ninh mạng", Thứ trưởng Bùi Xuân Dũng nói.

Các đại biểu thực hiện nghi lễ khai mạc Tuần lễ ngành nước Việt Nam - Vietnam Water Week 2026 với chủ đề "Chuyển đổi số và tăng cường khả năng thích ứng của ngành nước trong kỷ nguyên mới". (Ảnh Thành Long)
Tăng kết nối, nâng khả năng thích ứng của ngành nước
Bên cạnh chuyển đổi số, Thứ trưởng cho rằng khả năng thích ứng phải được tính đến xuyên suốt từ quy hoạch, chuẩn bị đầu tư, thiết kế, xây dựng đến quản lý vận hành.
Đối với cấp nước, cần tăng cường an toàn nguồn, tính dự phòng và khả năng kết nối, hỗ trợ lẫn nhau giữa các hệ thống. Với thoát nước, cần tiếp cận theo lưu vực, gắn với cao độ nền, hệ thống thủy lợi, sông hồ, không gian trữ và điều hòa nước mưa, phù hợp điều kiện từng đô thị, địa phương.
Thứ trưởng Bùi Xuân Dũng cũng nhấn mạnh yêu cầu huy động đa dạng nguồn lực cho phát triển ngành nước. Bên cạnh nguồn lực nhà nước, cần phát huy vai trò khu vực tư nhân, hợp tác công - tư, tài chính xanh và các nguồn vốn hợp pháp khác, đồng thời bảo đảm công khai, minh bạch và phân bổ rủi ro hợp lý.

TS. Nguyễn Ngọc Điệp, Chủ tịch Hội Cấp Thoát nước Việt Nam cho rằng Tuần lễ ngành nước Việt Nam - Vietnam Water Week 2026 là không gian kết nối, chia sẻ kinh nghiệm, thúc đẩy công nghệ và hợp tác đầu tư trong ngành nước.
Từ những yêu cầu trên, Bộ Xây dựng đề nghị các cơ quan, địa phương, doanh nghiệp và đối tác ngành nước tập trung vào 4 nhiệm vụ.
Một là, nâng cao chất lượng và tính liên tục của dịch vụ cấp, thoát nước; tăng cường quản lý rủi ro, bảo đảm cấp nước an toàn, nâng cao hiệu quả thu gom, xử lý nước thải và kiểm soát ngập úng.
Hai là, đẩy mạnh số hóa, chuẩn hóa dữ liệu chuyên ngành, ưu tiên các giải pháp giúp giảm thất thoát, tiết kiệm năng lượng, kiểm soát chất lượng dịch vụ và hỗ trợ ra quyết định, đồng thời bảo đảm an toàn hệ thống thông tin.
Ba là, nâng cao khả năng thích ứng của hạ tầng cấp, thoát nước trước biến đổi khí hậu và các rủi ro về nguồn nước; tăng tính liên kết, dự phòng của hệ thống cấp nước, phát triển thoát nước theo lưu vực và thúc đẩy tái sử dụng nước, thu hồi tài nguyên từ nước thải, bùn thải phù hợp.
Bốn là, đa dạng hóa nguồn lực đầu tư, tăng cường hợp tác công - tư, hợp tác quốc tế, chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Các mô hình, công nghệ được lựa chọn cần phù hợp với điều kiện Việt Nam và tạo hiệu quả thiết thực, lâu dài.