Bố mẹ mất không để lại di chúc, con đã tách hộ khẩu có còn được chia thừa kế?

Pháp luật
SKĐS - Bố mẹ mất không để lại di chúc, các con đã tách hộ khẩu từ nhiều năm trước thì có còn quyền hưởng thừa kế hay không?

Bà Nguyễn Hạnh An (54 tuổi, Lào Cai) hỏi: 

Gia đình tôi có 4 anh chị em (2 trai, 2 gái). Bố mẹ đều đã mất và không để lại di chúc. Sổ đỏ hiện vẫn đứng tên bố. Anh trai cả mất sau khi bố mẹ qua đời, hiện còn vợ và 2 con trai. Em trai út và hai chị gái đều còn sống, cả 3 đều đã tách hộ khẩu từ nhiều năm trước. Hiện vợ của anh trai cả cho rằng tài sản chỉ được chia cho hai người con trai trong gia đình và yêu cầu được hưởng một nửa đất, căn nhà. Xin hỏi, theo quy định pháp luật, ai là người có quyền thừa kế trong trường hợp này? Việc 3 người con đã tách hộ khẩu có làm mất quyền hưởng di sản hay không? Ngoài ra, để phân chia di sản và sang tên sổ đỏ hiện vẫn đứng tên bố thì gia đình cần thực hiện những thủ tục gì?

Bố mẹ mất không để lại di chúc, con đã tách hộ khẩu có còn được chia thừa kế?- Ảnh 1.

Việc phân chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất khi người mất không để lại di chúc thường phát sinh nhiều vướng mắc, tranh chấp trong thực tế. Ảnh minh họa (AI).

Thạc sĩ, luật sư Hoàng Thị Hương Giang (Đoàn luật sư TP Hà Nội) trả lời:

Ai là người có quyền thừa kế trong trường hợp này?

Theo quy định tại Điều 649, Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015, đối với trường hợp bố mẹ đều đã chết và không để lại di chúc thì di sản thừa kế sẽ được chia theo pháp luật. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong các trường hợp sau:

  • Không có di chúc;
  • Di chúc không hợp pháp;
  • Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
  • Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự thì những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

  • Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
  • Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
  • Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Bên cạnh đó, Điều 610 Bộ luật Dân sự quy định về quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân thì mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Do đó, khi chia thừa kế theo pháp luật thì không phân biệt người thừa kế là con trai hay con gái, đã kết hôn hay chưa, có cùng đăng ký thường trú hay không miễn là thuộc hàng thừa kế theo quy định của pháp luật thì đều có quyền hưởng di sản.

Đối với trường hợp người anh trai cả đã mất sau khi bố mẹ qua đời, theo khoản 1 Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết; đồng thời, theo Điều 613 Bộ luật Dân sự năm 2015, người thừa kế là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Do anh trai cả vẫn còn sống khi bố mẹ qua đời nên anh là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 và quyền hưởng di sản của anh đã phát sinh kể từ thời điểm mở thừa kế.

Sau khi quyền hưởng di sản đã phát sinh nhưng trước khi việc phân chia di sản được thực hiện thì anh trai cả qua đời, khi đó, phần di sản mà anh được hưởng từ bố mẹ trở thành di sản của anh và tiếp tục được chia theo pháp luật cho những người thừa kế hợp pháp theo hàng thừa kế thứ nhất của anh. Theo điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, hàng thừa kế thứ nhất của anh trai cả gồm người vợ và hai người con. Do đó, phần di sản mà anh trai cả được hưởng từ bố mẹ sẽ được chia đều cho ba người này theo quy định của pháp luật.

Bố mẹ mất không để lại di chúc, con đã tách hộ khẩu có còn được chia thừa kế?- Ảnh 2.

Thạc sĩ, luật sư Hoàng Thị Hương Giang (Đoàn luật sư TP Hà Nội). Ảnh: NVCC.

Việc 3 người con đã tách hộ khẩu có làm mất quyền hưởng di sản hay không?

3 người con đã tách hộ khẩu không làm mất quyền hưởng di sản thừa kế. Theo điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Đồng thời, khoản 2 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Căn cứ các quy định trên, pháp luật xác định người có quyền hưởng di sản dựa trên quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản, không căn cứ vào việc người đó còn hay không còn đăng ký thường trú cùng người để lại di sản, đã tách hộ khẩu hay đã kết hôn.

Do đó, trong trường hợp bố mẹ chết không để lại di chúc, 3 người con mặc dù đã tách hộ khẩu từ nhiều năm trước vẫn là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất và có quyền hưởng di sản ngang bằng với những người con khác theo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp thuộc một trong các trường hợp không được quyền hưởng di sản theo Điều 621 Bộ luật Dân sự năm 2015 hoặc từ chối nhận di sản theo Điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Gia đình cần thực hiện những thủ tục gì?

Trường hợp các đồng thừa kế thống nhất được việc phân chia di sản

Thứ nhất, trường hợp tất cả những người thừa kế thống nhất việc phân chia di sản thì sẽ thực hiện thủ tục thoả thuận phân chia di sản thừa kế và có thể yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng công chứng Văn bản phân chia di sản theo khoản 1 Điều 59 Luật Công chứng năm 2024. Công chứng viên có trách nhiệm kiểm tra, bảo đảm việc phân chia di sản được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật có liên quan. Văn bản phân chia di sản đã được công chứng là căn cứ để người nhận thừa kế thực hiện các thủ tục đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

Thứ hai, đăng ký biến động và sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi văn bản phân chia di sản đã được công chứng, người nhận thừa kế thực hiện thủ tục đăng ký biến động tại cơ quan đăng ký đất đai theo quy định tại khoản 3 Điều 133 Luật Đất đai năm 2024. Theo quy định này, đối với trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất thì thời hạn đăng ký biến động được tính kể từ ngày phân chia xong quyền sử dụng đất là di sản thừa kế theo quy định của pháp luật về dân sự hoặc kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp giữa các đồng thừa kế không thống nhất được việc phân chia di sản hoặc phát sinh tranh chấp 

Nếu các đồng thừa kế không thống nhất được việc phân chia di sản hoặc phát sinh tranh chấp thì không thể thực hiện công chứng văn bản phân chia di sản.

Khi phát sinh tranh chấp về việc phân chia di sản thừa kế thì một hoặc các đồng thừa kế có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền chia di sản thừa kế theo quy định của Bộ luật Dân sự. Sau khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người được di sản thừa kế được quyền thực hiện thủ tục đăng ký biến động và sang tên Giấy chứng nhận theo nội dung bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

Xem thêm bài viết:

Bố mẹ mất không để lại di chúc, con đã tách hộ khẩu có còn được chia thừa kế?- Ảnh 3.Sau khi mất xe vẫn nhận giấy phạt nguội gửi đến nhà: Chủ xe cần làm gì?

SKĐS - Câu chuyện một người dân bất ngờ nhận được thông báo phạt nguội đối với chiếc xe máy đã bị mất cắp đang thu hút sự quan tâm trên mạng xã hội.


Ý kiến của bạn