Sau 7 năm thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) tự nguyện, đến nay số người tham gia BHXH tự nguyện mới chỉ chiếm khoảng 0,3% số đối tượng thuộc diện tham gia, khoảng gần 240.000 người. Luật BHXH năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2016 đã sửa đổi, bổ sung một số quy định chưa phù hợp nhằm bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền hưởng an sinh xã hội của người lao động...
Linh hoạt trong thực hiện
Theo Trưởng ban Thực hiện chính sách BHXH (BHXH Việt Nam) Điều Bá Được, nguyên nhân chủ yếu là do loại hình BHXH tự nguyện lần đầu tiên được áp dụng nên cần phải có thời gian để người dân cân nhắc lựa chọn. Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện chủ yếu là lao động tự do, lao động thuộc lĩnh vực nông, lâm, diêm nghiệp với thu nhập thấp và không ổn định trong khi chính sách quy định thu nhập làm căn cứ đóng BHXH tự nguyện nên người lao động khó có khả năng tham gia. Quy định hiện hành đối tượng tham gia BHXH tự nguyện là công dân từ đủ 15 đến 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ nên nhóm có độ tuổi từ 45 tuổi trở lên đối với nam và từ 40 tuổi trở lên đối với nữ sẽ không được tham gia; Nhà nước chưa có chính sách hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện để khuyến khích người dân tham gia. Đặc biệt là công tác tuyên truyền còn hạn chế, chưa phù hợp với các nhóm đối tượng, người dân chưa hiểu về BHXH tự nguyện. Vẫn còn đó tư tưởng tự cấp tự túc phổ biến trong các tầng lớp dân cư, người dân chưa thể lo xa cho tuổi già của mình.
Do đó, chính sách BHXH tự nguyện theo quy định của Luật BHXH năm 2014 đã kế thừa các quy định của Luật BHXH năm 2006, sửa đổi, bổ sung một số quy định chưa phù hợp nhằm bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền hưởng an sinh xã hội của người lao động. Cụ thể, mở rộng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện đến mọi công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, không khống chế trần tuổi tham gia BHXH tự nguyện. Thu nhập làm căn cứ đóng BHXH tự nguyện tính trên mức thu nhập tháng do người tham gia lựa chọn.
Quy định phương thức đóng BHXH tự nguyện linh hoạt hơn cho người tham gia được lựa chọn đóng hằng tháng hoặc 3 tháng một lần, hoặc 6 tháng một lần, hoặc 12 tháng một lần, hoặc đóng một lần cho nhiều năm về sau với mức thấp hơn mức đóng hằng tháng hoặc đóng một lần cho những năm còn thiếu với mức đóng cao hơn mức đóng hằng tháng. Về chế độ được hưởng tiếp tục duy trì chế độ hưu trí và tử tuất; đồng thời có quy định quyền lợi hưởng liên thông với chính sách BHXH bắt buộc.
Người tham gia BHXH tự nguyện thuộc hộ nghèo được hỗ trợ tới 30%
Để triển khai chính sách BHXH tự nguyện hiệu quả, Nghị định số 134/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của Luật BHXH về BHXH tự nguyện. Theo đó, việc hỗ trợ tiền đóng BHXH của Nhà nước đối với người tham gia BHXH tự nguyện được thực hiện từ ngày 1/1/2018. Không hỗ trợ tiền đóng đối với thời gian đóng BHXH tự nguyện trước ngày 1/1/2018, trừ trường hợp đóng một lần cho những năm còn thiếu.
Người tham gia BHXH tự nguyện được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng theo tỷ lệ % trên mức đóng BHXH hằng tháng theo mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn, cụ thể: bằng 30% đối với người tham gia BHXH tự nguyện thuộc hộ nghèo; bằng 25% đối với người tham gia BHXH tự nguyện thuộc hộ cận nghèo; bằng 10% đối với các đối tượng khác.
Mức đóng BHXH tự nguyện hằng tháng bằng 22% mức thu nhập tháng do người tham gia BHXH tự nguyện lựa chọn. Mức thu nhập tháng do người tham gia BHXH tự nguyện lựa chọn thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ và cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở tại thời điểm đóng.
Mức đóng 3 tháng hoặc 6 tháng hoặc 12 tháng một lần được xác định bằng mức đóng hằng tháng theo quy định trên nhân với 3 đối với phương thức đóng 3 tháng; nhân với 6 đối với phương thức đóng 6 tháng; nhân với 12 đối với phương thức đóng 12 tháng một lần.
Mức đóng một lần cho nhiều năm về sau nhưng không quá 5 năm một lần được tính bằng tổng mức đóng của các tháng đóng trước, chiết khấu theo lãi suất đầu tư quỹ BHXH bình quân tháng do BHXH Việt Nam công bố của năm trước liền kề với năm đóng.
Trường hợp người tham gia BHXH tự nguyện đã đóng theo phương thức đóng 3 tháng, hoặc 6 tháng, hoặc 12 tháng một lần, hoặc đóng một lần cho nhiều năm về sau theo quy định trên mà trong thời gian đó Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn thì không phải điều chỉnh mức chênh lệch số tiền đã đóng.