Đồng thuận của Hội Tim mạch học Việt Nam năm 2026 về béo phì và bệnh tim mạch vừa công bố đưa ra cách tiếp cận dựa trên bằng chứng nhằm dự phòng, đánh giá và quản lý bệnh tim mạch liên quan đến béo phì.
Béo phì - yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng
Đồng thuận được xây dựng trên cơ sở thống nhất của các chuyên gia đầu ngành, tập trung làm rõ mối quan hệ giữa béo phì và sức khỏe tim mạch, đồng thời tổng hợp bằng chứng về tác động của các biện pháp giảm cân đối với kết cục tim mạch.
Theo các chuyên gia, mô mỡ dư thừa là một cơ quan nội tiết - miễn dịch có hoạt tính, tác động đến chuyển hóa, huyết áp, tình trạng viêm và cấu trúc, chức năng của tim.
GS.TS.BS Phạm Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Tim mạch học Việt Nam cho biết, bên cạnh các yếu tố nguy cơ truyền thống như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu và lối sống ít vận động, béo phì là yếu tố quan trọng nhưng đôi khi chưa được quan tâm đúng mức. Stress, ô nhiễm không khí và tình trạng viêm cũng có thể tương tác, làm gia tăng nguy cơ tim mạch.

GS.TS.BS Phạm Mạnh Hùng - Chủ tịch Hội Tim mạch học Việt Nam giới thiệu về đồng thuận của Hội tim mạch học Việt Nam về béo phì và bệnh tim mạch 2026. Ảnh: Phương Thảo
Đồng thuận nhấn mạnh mối liên hệ giữa béo phì và bệnh tim mạch là quan hệ hai chiều, đa cơ chế. Thừa cân, béo phì thúc đẩy các yếu tố nguy cơ như đái tháo đường type 2, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, hội chứng ngưng thở khi ngủ, bệnh thận mạn và bệnh gan nhiễm mỡ do rối loạn chuyển hóa; đồng thời góp phần gây suy tim, rung nhĩ, huyết khối tĩnh mạch, bệnh tim mạch do xơ vữa và bệnh van tim.
Béo phì còn làm tăng nhu cầu hoạt động của hệ tim mạch và nguy cơ bệnh động mạch vành do xơ vữa, có thể dẫn tới suy tim do thiếu máu cục bộ. Ở người bệnh suy tim, tình trạng này liên quan đến triệu chứng nặng hơn, khả năng gắng sức và chất lượng cuộc sống thấp hơn, đồng thời làm tăng nguy cơ nhập viện.
Không chỉ nhìn vào một con số trên cân
Theo đồng thuận của Hội tim mạch học Việt Nam về béo phì và bệnh tim mạch 2026, đánh giá thừa cân, béo phì không nên chỉ dựa vào cân nặng hoặc chỉ số khối cơ thể (BMI), mà cần xem xét vòng eo, phân bố mỡ, thành phần cơ thể, giai đoạn bệnh, bệnh đồng mắc và tổn thương cơ quan đích. Cách tiếp cận này giúp nhận diện những trường hợp có lượng mỡ nội tạng cao dù BMI chưa quá cao, đồng thời hỗ trợ cá thể hóa điều trị.
Các chuyên gia nhấn mạnh béo phì cần được xem là một đích điều trị quan trọng trong dự phòng tim mạch, thay vì chỉ là yếu tố nguy cơ đi kèm. Mục tiêu không chỉ là giảm cân mà còn giảm nguy cơ biến cố tim mạch, cải thiện triệu chứng, khả năng vận động, chất lượng cuộc sống và kiểm soát bệnh đồng mắc.

Đồng thuận của Hội tim mạch học Việt Nam về béo phì và bệnh tim mạch nhấn mạnh mối liên hệ giữa béo phì và bệnh tim mạch là quan hệ hai chiều, đa cơ chế. Ảnh: Phương Thảo
Đồng thuận cho thấy giảm ít nhất 5% cân nặng có thể cải thiện các yếu tố nguy cơ tim mạch; giảm từ 10% trở lên có thể góp phần kiểm soát biến chứng và cải thiện kết cục tim mạch.
Một số trường hợp có thể cần giảm từ 15% trở lên tùy tình trạng bệnh và chỉ định điều trị. Với các liệu pháp đã có bằng chứng, quản lý béo phì còn có thể góp phần giảm biến cố tim mạch.
Quản lý dài hạn, đa mô thức và cá thể hóa
Theo Đồng thuận, điều trị béo phì cần toàn diện, đa mô thức và cá thể hóa. Can thiệp lối sống là nền tảng; thuốc, can thiệp nội soi hoặc phẫu thuật chuyển hóa - giảm cân được cân nhắc theo chỉ định, lợi ích - nguy cơ và bệnh đồng mắc, trong mô hình phối hợp đa chuyên khoa.
Các bằng chứng mới về liệu pháp incretin, gồm GLP-1 RA và GIP/GLP-1 RA, cùng phẫu thuật chuyển hóa - giảm cân đang đưa quản lý béo phì trở thành một thành phần quan trọng trong dự phòng và điều trị bệnh tim mạch.
Thuốc có thể được sử dụng kết hợp với can thiệp lối sống ở người béo phì lâm sàng hoặc những trường hợp cần giảm cân nhiều. Phẫu thuật có thể được cân nhắc khi điều trị không phẫu thuật không đạt hiệu quả, ở người có BMI từ 35 trở lên hoặc từ 30 trở lên kèm bệnh đồng mắc, theo chỉ định chuyên môn. Việc sử dụng thuốc phải theo chỉ định và dưới sự giám sát của bác sĩ.
Bên cạnh giảm cân, Đồng thuận nhấn mạnh việc dự phòng, kiểm soát biến chứng, nâng cao sức khỏe tâm thần và cải thiện chức năng thể chất, xã hội cũng cần được chú trọng.
GS.TS.BS Phạm Mạnh Hùng cho rằng trí tuệ nhân tạo và các ứng dụng công nghệ đang hỗ trợ người bệnh, thầy thuốc tiếp cận thông tin, chẩn đoán và xác định yếu tố nguy cơ tốt hơn, qua đó giúp đưa ra quyết định chính xác, cá thể hóa hơn trong điều trị tim mạch.

Khám sàng lọc béo phì. Ảnh: Thái Bình
Gánh nặng béo phì gia tăng nhanh tại Việt Nam
Béo phì là một trong những thách thức sức khỏe cộng đồng lớn của thế kỷ XXI, với tỷ lệ mắc gia tăng tại hầu hết các quốc gia.
Theo báo cáo của Liên đoàn Béo phì thế giới năm 2025, tỷ lệ người trưởng thành thừa cân và béo phì tăng từ khoảng 36% năm 2010 lên 40% năm 2015 và gần 48% năm 2022. Nếu xu hướng hiện nay tiếp tục, đến năm 2030 sẽ có khoảng 3 tỷ người trưởng thành, tương đương 50% người trưởng thành toàn cầu, sống chung với tình trạng này.
Tại Việt Nam, tỷ lệ thừa cân, béo phì ở người trưởng thành vẫn thấp hơn mức trung bình toàn cầu, nhưng tốc độ gia tăng thuộc nhóm nhanh. Giai đoạn 2000-2016, tỷ lệ này tăng trung bình khoảng 3,8%/năm và được dự báo tăng khoảng 4,0%/năm trong giai đoạn 2020-2035; riêng tỷ lệ béo phì dự báo tăng 6,3%/năm. Đến năm 2030, ước tính có 18,92 triệu người trưởng thành Việt Nam bị thừa cân, béo phì.
Gánh nặng này cũng gia tăng ở trẻ em và thanh thiếu niên. Giai đoạn 2010-2025, tỷ lệ thừa cân, béo phì ở nhóm 5-19 tuổi tăng trung bình 7,9% mỗi năm, thuộc nhóm cao trên thế giới. Năm 2025, tỷ lệ thừa cân và béo phì ở nhóm tuổi này lần lượt là 20,68% và 11,36%, tương ứng khoảng 4,8 triệu trẻ em và thanh thiếu niên sống chung với tình trạng thừa cân hoặc béo phì.
