Hiện nay, bệnh phong đã được điều trị khỏi bằng sự phối hợp của nhiều dược phẩm với các phương thức phòng chống tàn tật và phẫu thuật phục hồi chức năng. Tuy nhiên, chúng ta vẫn không được chủ quan trong công tác phòng chống phong để tránh bệnh phong quay trở lại.
Toàn cảnh về bệnh phong
Bệnh phong được ghi nhận là xuất hiện đầu tiên ở Ấn Độ nhiều ngàn năm về trước. Theo Guinness World Records, đây là bệnh nhiễm được biết tới sớm nhất.
Từ Ấn Độ, bệnh lan truyền tới Viễn Đông rồi châu Âu qua những người du lịch, những binh sĩ chinh phục thuộc địa lây bệnh.
Khí hậu nóng ẩm, nhà ở kém vệ sinh, dân chúng nghèo khổ là môi trường màu mỡ cho bệnh hoành hành. Cao điểm nhất của bệnh là vào những năm 1100- 1300 sau Công nguyên.
Ngày nay, bệnh giảm dần nhờ có những cải thiện về y tế công cộng cũng như trị liệu hữu hiệu.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, năm 1985 có khoảng hơn 6 triệu ca được ghi nhận và khoảng từ 10 tới 12 triệu người bị phong trên thế giới. Tới năm 2000, con số giảm xuống là 600.000 ca ghi danh và 1,6 triệu người bệnh phong trên thế giới.
Ở Việt Nam còn khoảng 60.000 người bệnh sống trong 20 Trung tâm điều trị phong trên toàn quốc như Phú Quỳnh, Văn Môn, Sóc Sơn, Phú Bình, Sơn La, Quả Cảm, Quy Hòa... Trong số này có đến gần 30.000 người bị tàn tật.
Nước Mỹ có trên dưới 7.000 người bị phong được ghi nhận và mỗi năm có thêm khoảng 300 ca, đa số là những di dân đã bị bệnh trước khi tới định cư tại Mỹ.
Có một thời kỳ, bệnh phong đã là mối kinh hoàng và gây nhiều hiểu nhầm tai hại cho nhân loại trong cả mấy ngàn năm.
Người ta coi bệnh phong như một trừng phạt của thượng đế. Người mắc bệnh phong bị cô lập, xa lánh, bêu xấu. Họ không được đến gần người khác, không được lập gia đình, phải mặc quần áo riêng để dễ nhận diện. Khi đi ra ngoài, họ phải đeo một cái chuông. Chuông kêu leng keng, để mọi người biết mà tránh. Tránh như tránh “cùi” tránh “hủi”.
Họ bị tập trung vào các ngôi nhà hẻo lánh, xa thị trấn, bị coi như những kẻ đã chết trong khối người còn sống; được dự đám tang, chôn cất chính mình. Khi chết thì thân xác bị vùi lấp ở mảnh đất xa xôi, riêng biệt. Tại một vài quốc gia thời Trung Cổ, người ta tiêu diệt bệnh phong bằng cách chôn sống bệnh nhân hoặc đốt cháy khu người phong trú ngụ để loại trừ bệnh.
Có người còn cho rằng phong lây lan qua hành động tình dục và đồng nghĩa phong với tội lỗi. Bản thân người bệnh cũng mang nhiều mặc cảm. Họ sống cầu bơ cầu bất lén lút trong thiếu thốn mọi mặt với vết thương lòng tàn phá chẳng kém chi vết thương trên xương thịt, cơ thể.
Bệnh do vi khuẩn Hansen
Phong cũng thường được gọi là bệnh Hansen, vì vi khuẩn gây bệnh được bác sĩ người Na Uy Gerhart Henrick Armauer Hansen tìm ra vào năm 1873 qua kính hiển vi. Đây cũng là khám phá đầu tiên về vi sinh vật gây bệnh ở loài người. Nhờ khám phá này mà phong được cởi bỏ gán ghép là một thứ tội lỗi, một trừng phạt hoặc lây lan do di truyền.
Vi khuẩn Hansen hầu như chỉ có ở loài người. Chúng chỉ sống được trong lòng tế bào cơ thể. Vì thế vi khuẩn không nuôi cấy được ở trong phòng thí nghiệm nhưng có thể sinh sản ở bàn chân ẩm ướt của loài chuột.
Mới đây, các khoa học gia khám phá ra rằng, một số thú vật tên là armadillos, có nhiều ở Texas và Louisiana, Hoa Kỳ, cũng chứa vi khuẩn này trong gan, dạ dày, ruột. Họ chưa biết chúng có truyền bệnh sang người hay không. Thú vật này không có ở châu Phi, Đông Nam Á, Ấn Độ, nơi mà bệnh phong có nhiều. Một vài loại khỉ cũng chứa vi khuẩn Hansen. Đôi khi vi khuẩn này cũng nằm lẫn trong đất cát.
Khoa học cũng chưa biết rõ bằng cách nào mà bệnh có thể lây lan giữa người với người. Trước đây người ta tin tưởng rằng bệnh rất hay lây và chỉ đụng vào người bệnh đã có thể bị nhiễm bệnh rồi. Nhưng thực ra không phải vậy. Kinh nghiệm cũng như khoa học cho hay bệnh có thể lây nhưng không dễ lan truyền. Vì quá trình lây lan, phải một thời gian tiếp xúc trực tiếp và lâu dài giữa người lành với người bệnh. Ngay cả những người chăm sóc bệnh nhân phong cũng ít khi bị nhiễm bệnh.
Hơn nữa, khoa học còn cho hay, chỉ 5% loài người có thể bị nhiễm vi khuẩn này và bệnh phong và 95% dân chúng có tính miễn dịch với vi khuẩn này mặc dù có tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân. Đó là nhờ hệ miễn dịch của cơ thể có khả năng tiêu diệt vi khuẩn này.
BS. Nguyễn Ý Đức