Bệnh nghề nghiệp thường âm thầm xuất hiện như thế nào?

Y học 360
SKĐS - Nhiều người cho rằng không có triệu chứng nghĩa là sức khỏe chưa bị ảnh hưởng bởi môi trường lao động. Tuy nhiên, với bệnh nghề nghiệp, khi dấu hiệu xuất hiện rõ ràng, tổn thương có thể đã âm thầm tích lũy trong nhiều năm.

1. Bệnh nghề nghiệp là gì?

Luật An toàn, vệ sinh lao động Luật số 84/2015/QH13 định nghĩa: "Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đối với người lao động". Định nghĩa tưởng như ngắn gọn này lại chỉ ra bản chất quan trọng nhất của bệnh nghề nghiệp, giữa công việc – yếu tố có hại – mức độ phơi nhiễm – thời gian tiếp xúc và bệnh tật tồn tại một mối liên quan nhân quả.

Không phải cứ bước vào môi trường có bụi hay hóa chất là lập tức mắc bệnh. Trong phần lớn trường hợp, quá trình gây bệnh diễn ra âm thầm: Người lao động tiếp xúc mỗi ngày với bụi, hóa chất, tiếng ồn hay các tác nhân có hại; những tác nhân này xâm nhập hoặc tác động lên cơ thể; tổn thương nhỏ tích lũy dần; khả năng tự sửa chữa của cơ thể ngày càng không đủ bù đắp. Đến một thời điểm nhất định, tổn thương vượt qua một "ngưỡng" và bệnh mới biểu hiện rõ.

Luật An toàn, vệ sinh lao động hiện hành xác định bệnh nghề nghiệp gắn với chính điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp. Đây cũng là cơ sở quan trọng để phòng bệnh phải bắt đầu từ nhận diện và kiểm soát phơi nhiễm, chứ không thể chỉ chờ người lao động xuất hiện triệu chứng rồi mới khám.

Chẳng hạn như bệnh bụi phổi silic. Đây là một ví dụ điển hình cho tính chất "âm thầm tích lũy" của bệnh nghề nghiệp. Người lao động khai thác đá, khoan đá, nghiền – sàng khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, đúc, làm gốm sứ hoặc thực hiện các công việc phát sinh bụi chứa silic tinh thể có thể hít phải những hạt bụi rất nhỏ. Các hạt bụi có kích thước đủ nhỏ đi sâu qua đường hô hấp tới tận phế nang – nơi thực hiện trao đổi oxy của phổi.

Tại đây, đại thực bào – những tế bào có nhiệm vụ "dọn dẹp" vật lạ – cố gắng bắt giữ các hạt silica. Nhưng silica không phải là loại bụi mà cơ thể có thể dễ dàng phân hủy. Quá trình tương tác này gây tổn thương tế bào, kích hoạt phản ứng viêm kéo dài và giải phóng các chất thúc đẩy hình thành mô xơ. Theo thời gian, hít bụi silica gây bụi lắng đọng ở phổi khiến phản ứng viêm kéo dài, hình thành các nốt xơ hóa, các nốt xơ có thể phát triển và liên kết làm giảm khả năng trao đổi khí và suy giảm chức năng hô hấp.

Bệnh nghề nghiệp thường âm thầm xuất hiện như thế nào? - Ảnh 1.

Bệnh bụi phổi silic là ví dụ điển hình cho tính chất "âm thầm tích lũy" của bệnh nghề nghiệp. Ảnh AI.

Theo y văn thế giới mô tả bệnh bụi phổi silic là bệnh xơ hóa phổi liên quan chặt chẽ với người lao động phải lao động trong môi trường bị ô nhiễm bụi, đặc biệt là bụi hô hấp (bụi kích thước 0,2-5 micromet) có chứa silic; bệnh có thể tiến triển ngay cả sau khi người lao động đã ngừng tiếp xúc.

Điều đáng lo là trong giai đoạn đầu, người lao động có thể hoàn toàn không có triệu chứng rõ ràn, họ vẫn đi làm bình thường, vẫn có thể đi bộ, leo cầu thang, mang vác. Chỉ khi tổn thương phổi tăng lên, người bệnh mới bắt đầu ho, khó thở khi gắng sức, giảm khả năng lao động; ở giai đoạn nặng có thể khó thở ngay cả khi nghỉ. Vì vậy, chờ đến khi có khó thở mới đi khám có thể là quá muộn để "đảo ngược" tổn thương, bởi xơ hóa phổi do silic về cơ bản là tổn thương không hồi phục.

Bên cạnh đó, chất độc có thể âm thầm tích lũy trong cơ thể như bệnh nhiễm độc chì nghề nghiệp hay amiăng và ung thư trung biểu mô, tiếp xúc hôm nay, hàng chục năm sau bệnh mới xuất hiện.

2. Có triệu chứng chỉ là "phần nổi" của quá trình bệnh

Bệnh bụi phổi silic, nhiễm độc chì và ung thư trung biểu mô do amiăng có cơ chế khác nhau nhưng cùng phản ánh một đặc điểm chung của bệnh nghề nghiệp: Phơi nhiễm nghề nghiệp thường xảy ra trước, tổn thương sinh học xuất hiện sau, triệu chứng lâm sàng thường xuất hiện muộn hơn nữa.

Có thể hình dung quá trình này theo chuỗi: Yếu tố có hại tại nơi làm việc → phơi nhiễm → tác nhân xâm nhập hoặc tác động vào cơ thể → thay đổi sinh học sớm → tổn thương cơ quan → bệnh có thể phát hiện bằng xét nghiệm/chẩn đoán hình ảnh → xuất hiện triệu chứng → suy giảm chức năng và khả năng lao động.

Nếu chỉ bắt đầu hành động ở bước "xuất hiện triệu chứng", chúng ta đã bỏ qua rất nhiều cơ hội phòng bệnh trước đó. Theo quy định hiện hành (Hướng dẫn bởi Thông tư 56/2025/TT-BYT), thời gian khám phát hiện bệnh nghề nghiệp được quy định rõ theo các nhóm trường hợp:

  • Khám đối với bệnh nghề nghiệp cấp tính: Nếu nghi ngờ mắc bệnh nghề nghiệp cấp tính, thời gian khám thực hiện ngay theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền, người sử dụng lao động hoặc chính người lao động.
  • Định kỳ khám phát hiện sớm bệnh nghề nghiệp: Tần suất khám định kỳ ít nhất 01 lần/năm (hoặc 06 tháng/lần với người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm)

3. Khám bệnh nghề nghiệp không chỉ dành cho người đang thấy mình "có bệnh"

Đó cũng là lý do khám phát hiện bệnh nghề nghiệp khác với việc người bệnh tự đi khám khi thấy đau hoặc khó chịu. Mục tiêu quan trọng của y học lao động là phát hiện những biến đổi sức khỏe trước khi bệnh tiến triển nặng.

Một công nhân tiếp xúc bụi silic dù chưa khó thở vẫn có thể cần được khám chức năng hô hấp và chẩn đoán hình ảnh theo chỉ định. Một người tiếp xúc chì dù chưa có triệu chứng điển hình vẫn cần được đánh giá phơi nhiễm và xét nghiệm sinh học phù hợp. Một người từng tiếp xúc amiăng cần được lưu giữ đầy đủ hồ sơ nghề nghiệp và theo dõi sức khỏe lâu dài, bởi nguy cơ có thể kéo dài nhiều năm sau khi đã nghỉ việc.

Nhưng quan trọng hơn danh mục bệnh là thay đổi cách tiếp cận, đừng chờ người lao động có triệu chứng mới nghĩ đến bệnh nghề nghiệp mà trước tiên cần đặt ra câu hỏi người lao động đang tiếp xúc với yếu tố gì, mức độ bao nhiêu, trong bao lâu và chúng ta đã làm gì để ngăn yếu tố đó đi vào cơ thể họ? Bởi đối với nhiều bệnh nghề nghiệp, khi người lao động bắt đầu cảm nhận rõ bệnh thì quá trình gây bệnh có thể đã âm thầm diễn ra từ rất lâu.

Mời bạn xem thêm:

Bệnh nghề nghiệp thường âm thầm xuất hiện như thế nào? - Ảnh 3.Cần biết: Hướng dẫn mới nhất của Bộ Y tế về quản lý bệnh nghề nghiệp

SKĐS - PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hương - Thứ trưởng Bộ Y tế đã ký ban hành Thông tư số 56/2025/TT-BYT về Hướng dẫn quản lý bệnh nghề nghiệp, bao gồm khám sức khỏe cho người lao động trước khi bố trí làm việc; khám phát hiện bệnh nghề nghiệp và thống kê, báo cáo về bệnh nghề nghiệp.

Trưởng khoa Bệnh nghề nghiệp, Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường, Bộ Y tế.
Ý kiến của bạn