Bên quầng sáng thủy điện

Thời sự
SKĐS - Đã có rất nhiều hệ lụy từ chính các dự án thủy điện. Thủy điện Bản Vẽ thuộc địa bàn huyện Tương Dương (Nghệ An) cũng vậy. Đời sống dân cư xáo trộn, cuộc sống của nhiều người trở nên khó khăn hơn. Rất nhiều người dân được đưa đi tái định cư (TĐC) đã quay trở về, cuộc sống bám vào lòng hồ.

Thương con cũng đành bất lực

Trong biết bao hành trình về với vùng cao, vùng sâu xa, thì chuyến công tác tại vùng lòng hồ thủy điện Bản Vẽ để lại trong tôi một nỗi xót xa đặc biệt. Muốn vào bản không có đường phải thuê thuyền cả tiếng đồng hồ mới mon men được những bản đầu tiên. Những cánh rừng tốt tươi, mặt hồ mênh mông, càng làm cho con người trở nên nhỏ bé. Cái khổ dường như cũng vì thế mà nhân lên.

Bà con bản Kim Hồng trở về lòng hồ, cuộc sống khó khăn.

Khó khăn lớn nhất đối với người dân tộc Thái các xã Hữu Khuông, Kim Tiến, Nhôn Mai (huyện Tương Dương) là thiếu đất sản xuất. Một nỗi lo ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nên không còn cách nào khác, họ phải trở về nơi họ được vận động ra đi. May mắn thay, vùng đất núi rừng thưa thớt bóng người, với mặt hồ nước Bản Vẽ dâng cao đã đón họ, cho họ kế sinh nhai. Anh Quàng Văn Hải, một người dân làm nghề buôn hàng vặt trên lòng hồ tâm sự: “Nhu cầu của người dân ít, nhưng những thứ tối thiểu như dầu đèn, mắm muối, rau thì phải mua từ bên ngoài vào. Mỗi lần chuyển hàng từ ngoài vào xã Hữu Khuông đây, chúng tôi lại tranh thủ mua sắn, chuối của bà con ra thị trấn bán. Đó chỉ là những giao dịch nhỏ thôi. Chứ nếu không có thì người dân chẳng thể nào sống được. Đường không có, điện cũng không, càng không có chợ. Bà con chẳng thể mãi sống cảnh là “người rừng””!

Di dân ngược trở lại lòng hồ, đời sống xáo trộn. Nhiều em nhỏ cũng phải chịu cảnh xáo trộn cùng với gia đình. Ở vùng đất được tái định cư, có trường học, nhưng gia đình không có cái ăn. Về lòng hồ, gia đình đánh bắt được con cá, lên núi trồng được bắp ngô, củ sắn, coi như no cái bụng. Nhưng còn cái chữ thì đói. UBND xã Hữu Khuông chỉ “áng chừng” được hơn một trăm đứa trẻ trong khu vực đang chịu cảnh thất học. Anh Lô Văn Đại, người dân về bản Kim Hồng tâm sự: “Hộ khẩu thì vẫn ở mãi huyện Thanh Chương, về đây chúng tôi không được thừa nhận. Cán bộ có vận động đi về nơi tái định cư, nhưng làm sao chúng tôi đi được. Bọn trẻ thì càng không. Đây mấy đứa con nhỏ như hạt mít của tôi giờ cũng không được học. Thương quá, mà làm gì thay đổi được hoàn cảnh”. Già làng Lò Văn Quyết cũng chung một tâm trạng ấy. Già bảo, mình nhiều tuổi rồi, đã đưa đàn con cháu về vùng tái định cư, rồi lại phải bìu ríu về. Hơn chục đứa cháu không được đi học. Nhưng chúng nó cũng như bố mẹ chúng đều chấp nhận đói cái chữ để no cái bụng trước. “Để đi học thì người ta cũng chấp nhận cho nhận lớp, nhưng học thì phải đi thuyền máy ra, vào. Dân chúng tôi ăn còn chẳng đủ, đời sống vẫn chủ yếu tự cung tự cấp, tiền xăng đâu mà đổ cho hai chuyến đi - về? Vậy là biết con khổ, nhưng chúng tôi vẫn phải chấp nhận. Bản Kim Hồng có 30 em bé chẳng được đi học đó nhà báo à”, già Quyết nhấn mạnh.

Nhiều em nhỏ xuống suối đánh cá.

Nỗi niềm con trẻ

Theo quan sát, trẻ từ 8 tuổi trở lên là biết lấy mặt nước làm thú tiêu khiển rồi. Chúng cởi hết, nhảy ùm xuống và bơi lội. Đứa lớn hơn đã biết quăng chài nơi dòng suối đổ vào hồ để bắt cá. Mùa mưa cũng như mùa nắng. Vì thế, vào mùa đông dường như trở nên khắc nghiệt hơn với bà con.

Trẻ con vùng lòng hồ, nhất là sống trên những chiếc thuyền lênh đênh rất ngại tiếp xúc với người lạ. Hẳn đúng thôi, bởi chúng mấy khi được tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Thế giới của chúng là những bìa rừng, là mặt nước, những con sóng, trận mưa rừng và cả những ngày bữa đói bữa no. Đồ chơi, thức ăn có thịt là những thứ xa xỉ. Chuyện học hành của chúng, nếu chẳng có một tác động lớn từ các cấp các ngành thì sẽ mãi chỉ là ước mơ. Không được đi học, đồng nghĩa với việc trẻ em sẽ được dựng vợ gả chồng sớm. Nạn tảo hôn diễn ra. Rồi sinh con đẻ cái. Cái vòng luẩn quẩn nghèo đói, thất học, tảo hôn cứ bám riết lấy người dân. Đôi vai gầy guộc nhỏ bé của trẻ em nơi bản làng vùng cao này cũng phải chìa ra để “gánh” một phần nỗi lo cơm áo. Em Lô Thị Tho (18 tuổi ) lấy chồng sớm, đã có hai con cho biết: “Như nhiều bác đã kể đấy chú. Nhà cháu không chịu đi đến nơi ở mới nên từ năm 2009 thì chẳng thuộc xã nào cả. Vậy là trẻ con không được đi học. Nhưng các anh chị trước cũng bảo, học không no được cái bụng nên ở nhà lấy chồng, lên nương lên rẫy làm, xuống hồ bắt cá thì khỏe hơn”. Vậy nếu nhà có tiền, có cái ăn thì Tho có thích đi học không? Tho trả lời: “Thích chứ ạ. Nếu có tiền, có cái ăn rồi thì còn phải nghỉ học làm gì nữa. Đi học được mặc áo đẹp hơn, được đọc sách, được chơi... Nhưng chẳng bao giờ có ngày đó đâu chú nhỉ?”.

Đời sống của bà con vùng lòng hồ còn nhiều khó khăn, thiếu thốn.

Câu hỏi của Tho khiến tôi và những người lớn đứng đó day dứt. Đúng là thủy điện đang phát ra điện, ra ánh sáng, nhưng các xã trong khu vực là những nơi “dâng” đất làm thủy điện, chịu cảnh sống đời bộ lạc vì thủy điện thì vẫn không có điện. Thủy điện đã không soi được ánh sáng của nó tới những mảnh đời đang sống bấp bênh và đầy nhọc nhằn nơi lòng hồ.

Cũng phải khẳng định, một số học sinh đã được linh động, dù không có hộ khẩu cũng được chính quyền xã Hữu Khuông và các thầy cô giáo tạo điều kiện cho về học. Nhưng trường quá tải, phải làm những khu lán tạm cho các em ở và học. Thế nhưng, dù thương các em nhỏ thì nhà trường cũng chẳng đủ điều kiện để tiếp nhận hết. Các em cũng chẳng có điều kiện mà di chuyển tới trường.

Tôi đã gặp em Lô Văn Phòng (bản Xốp Lằm, xã Hữu Dương) có tinh thần ham học. Cứ sáng dậy, Phòng lại xin đi nhờ thuyền của một bác làm nghề đò dọc giữa lòng hồ để đến trường. Vì không có hộ khẩu nên Phòng cũng phải xin “học nhờ” tại Trường tiểu học Hữu Khuông. Dẫu vất vả vậy, Phòng vẫn đi học rất chuyên cần. Một ngày của Phòng bắt đầu từ 5 giờ sáng, khi bác chủ thuyền nổ máy đi đón khách, em cũng vội vã xách cặp chạy xuống bến. Tấm gương như em ở các bản làng hoang vắng này quá hiếm. Cũng bởi, dường như các em đã chẳng còn cách nào khác là chọn cách rời xa mái trường. Các em và gia đình đành chọn cách sống bám và phụ thuộc vào thiên nhiên.

Ước mơ ngày mai

Dù ở hoàn cảnh nào thì người dân cũng đã chọn cách vươn lên. Hơn 70 người làm nghề lái thuyền trên lòng hồ để gom nhặt những đồng bạc lẻ chứng tỏ điều đó. Hàng trăm hộ dân sống “ngoài vòng pháp luật”, do không phải chịu sự quản lý của chính quyền địa phương vẫn sống len lỏi trên những vạt rừng ven hồ. Người dân vẫn mong đợi khách từ bên ngoài vào để được đưa đón và trò chuyện. Cảnh sống nhếch nhác, thiếu thốn của người dân cán bộ có biết không? Biết, như anh Quàng Văn Đặng - Chánh Văn phòng UBND huyện Tương Dương, thì việc giúp đỡ bà con trong vùng dự án thủy điện vượt quá sức của huyện. Việc an sinh, ổn định đời sống cho người dân đòi hỏi sự chung tay của nhiều ngành, trong đó có cả đơn vị khai thác thủy điện.

Còn ông Vi Tân Hợi - Phó Chủ tịch UBND huyện Tương Dương cũng cho biết, cấp huyện đã nỗ lực hết sức. Chuyện người dân di dân ngược về lòng hồ, sống với lối sống tự do, tự cung tự cấp là điều không ai muốn, nhưng chính sách ổn định đời sống cho họ còn nhiều thiếu hụt. Ngay cả đơn vị khai thác thủy điện cũng than khó. Trăm ngàn cái gian khó đổ vào đầu dân. Vậy nên, chỉ cách nhà máy thủy điện vài trăm mét là một quầng tối cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Tối vì còn chưa có điện. Tối vì cuộc sống bà con còn nhiều khó khăn. Thế mà, trên đôi mắt của người dân tôi vẫn thấy sự óng ánh hy vọng. Dù rằng, có gia đình đã không còn một hạt gạo trong chum. Họ vẫn cười tươi chào khách.


Phóng sự của Diên Khánh
Ý kiến của bạn