Bé gái 2 tháng tuổi mắc giang mai, nguy cơ nghiêm trọng nếu không được phát hiện

Bệnh trẻ em
SKĐS - Giang mai bẩm sinh xảy ra khi mẹ mắc giang mai trong thai kỳ và truyền bệnh sang thai nhi. Bệnh có thể gây sảy thai, sinh non, thai chết lưu hoặc để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho trẻ sau khi chào đời.

1. Bé gái 2 tháng tuổi mắc giang mai

Em bé 2 tháng tuổi sốt, xuất hiện nhiều sẩn đỏ điều trị viêm da cơ địa không bớt, kết quả sàng lọc xác định mắc giang mai.

Ngày 17/8, bác sĩ Nguyễn Minh Hường, Phòng khám Các bệnh lây truyền qua đường tình dục - Bệnh viện Da liễu Trung ương cho biết: trong suốt thai kỳ, người mẹ không xét nghiệm sàng lọc giang mai và không được điều trị bệnh. Bé gái sinh thường đủ tháng. Trước khi nhập viện hai tuần, bé xuất hiện nhiều sẩn đỏ có viền vảy ở đầu, lưng, tay chân cùng lòng bàn tay, lòng bàn chân, kèm theo sốt cao.

Bác sĩ xác định bệnh nhi mắc giang mai bẩm sinh, điều trị bằng Benzyl Penicillin G truyền tĩnh mạch trong 10 ngày. Khoảng hai giờ sau mũi tiêm penicillin đầu tiên, bé sốt 39 độ C, phát ban đỏ lan tỏa khắp cơ thể. Bác sĩ chẩn đoán đây là phản ứng Jarisch-Herxheimer, một dạng viêm cấp tính thường xảy ra trong những giờ đầu điều trị giang mai bằng penicillin chứ không phải dị ứng thuốc. Êkíp điều trị cho trẻ dùng thuốc hạ sốt và tiêm tĩnh mạch corticoid, theo dõi sát sao rồi tiếp tục truyền penicillin theo đúng phác đồ.

Sau khoảng 6 giờ, tình trạng sức khỏe của bé cải thiện rõ rệt, hết sốt và không ghi nhận thêm biểu hiện bất thường nào khác. Sau 10 ngày, các tổn thương ngoài da mờ dần, thể trạng ổn định, bé xuất viện và phải tái khám định kỳ để kiểm tra huyết thanh học.

Người mẹ cũng có kết quả xét nghiệm dương tính với giang mai, điều trị theo phác đồ dành cho người lớn.

Bé gái 2 tháng tuổi mắc giang mai, nguy cơ nghiêm trọng nếu không được phát hiện, - Ảnh 1.

Dấu hiệu bệnh giang mai trên tay trẻ. Ảnh: BVCC

2. Giang mai lây từ mẹ sang con như thế nào?

Giang mai là bệnh nhiễm khuẩn do xoắn khuẩn Treponema pallidum gây ra, chủ yếu lây truyền qua quan hệ tình dục không an toàn. Người mẹ mắc giang mai có thể truyền bệnh cho thai nhi trong thời kỳ mang thai. Trẻ cũng có thể tiếp xúc với tổn thương nhiễm khuẩn của mẹ trong quá trình sinh, tuy nhiên con đường lây truyền quan trọng nhất của giang mai bẩm sinh là qua nhau thai trong thai kỳ.

Ở phụ nữ mang thai, các biểu hiện của giang mai có thể không rõ ràng, dễ bị bỏ qua hoặc nhầm lẫn với những vấn đề sức khỏe khác. Một số tổn thương đặc trưng của bệnh có thể nằm ở vị trí khó quan sát, trong khi giang mai giai đoạn hai cũng có biểu hiện đa dạng, khiến người bệnh không nhận biết mình đang mắc bệnh.

Khi người mẹ nhiễm giang mai, xoắn khuẩn có thể đi qua nhau thai và xâm nhập vào cơ thể thai nhi. Nguy cơ lây truyền phụ thuộc vào thời điểm mẹ mắc bệnh, giai đoạn bệnh và việc có được điều trị hay không.

Người mẹ mắc giang mai càng sớm trong thai kỳ nhưng không được điều trị thì nguy cơ ảnh hưởng đến thai nhi càng đáng lưu ý. Nhiễm giang mai trong thai kỳ có thể làm tăng nguy cơ sảy thai, sinh non, thai chậm phát triển, thai chết lưu hoặc trẻ mắc giang mai bẩm sinh.

Đáng lưu ý, người mẹ có thể không có triệu chứng rõ ràng nhưng vẫn có khả năng truyền bệnh cho thai nhi. Vì vậy, xét nghiệm sàng lọc giang mai trong thai kỳ có vai trò quan trọng trong việc phát hiện và điều trị sớm.

3. Giang mai bẩm sinh nguy hiểm thế nào?

Mức độ ảnh hưởng của giang mai đối với thai nhi và trẻ sơ sinh rất đa dạng. Trong trường hợp nhiễm trùng nặng, thai nhi có thể bị tổn thương nghiêm trọng, dẫn đến sảy thai, thai chết lưu hoặc sinh non.

Trẻ mắc giang mai bẩm sinh có thể không biểu hiện triệu chứng ngay khi chào đời. Một số trẻ xuất hiện các biểu hiện như phát ban, tổn thương da và niêm mạc, gan lách to, vàng da, thiếu máu, viêm xương hoặc viêm khớp. Nếu không được phát hiện và điều trị, bệnh có thể gây tổn thương nhiều cơ quan.

Về lâu dài, giang mai bẩm sinh có thể ảnh hưởng đến thần kinh, mắt, tai, xương và răng, thậm chí gây suy giảm thính lực, thị lực hoặc các vấn đề phát triển.

Do đó, việc phát hiện người mẹ mắc giang mai càng sớm càng giúp giảm đáng kể nguy cơ biến chứng cho thai nhi và trẻ sau sinh.

4. Làm gì để phòng ngừa giang mai bẩm sinh?

Phòng ngừa giang mai bẩm sinh cần bắt đầu từ trước khi mang thai và tiếp tục trong suốt thai kỳ.

Chủ động xét nghiệm trước và trong thai kỳ: Phụ nữ có kế hoạch mang thai nên khám sức khỏe và thực hiện các xét nghiệm sàng lọc bệnh lây truyền qua đường tình dục theo tư vấn của bác sĩ. Khi mang thai, cần khám thai định kỳ và thực hiện xét nghiệm giang mai theo hướng dẫn.

Quan hệ tình dục an toàn: Sử dụng bao cao su đúng cách có thể giúp giảm nguy cơ lây truyền giang mai và nhiều bệnh lây truyền qua đường tình dục khác. Tuy nhiên, bao cao su không loại bỏ hoàn toàn nguy cơ nếu tổn thương giang mai nằm ở vùng da không được bao phủ.

Điều trị kịp thời: Nếu được chẩn đoán mắc giang mai khi mang thai, người mẹ cần tuân thủ phác đồ điều trị do bác sĩ chỉ định. Không nên tự mua thuốc hoặc trì hoãn điều trị vì lo ngại ảnh hưởng đến thai nhi.

Việc điều trị đúng thuốc, đúng thời điểm cho người mẹ có thể làm giảm đáng kể nguy cơ truyền giang mai cho thai nhi. Bạn tình cũng cần được đánh giá và điều trị khi có chỉ định để tránh tái nhiễm.

Theo dõi thai kỳ và trẻ sau sinh: Trường hợp người mẹ mắc giang mai trong thai kỳ cần được bác sĩ theo dõi chặt chẽ. Sau khi trẻ chào đời, bác sĩ sẽ đánh giá nguy cơ và chỉ định xét nghiệm, điều trị hoặc theo dõi phù hợp.

Giang mai bẩm sinh là bệnh có thể phòng ngừa hiệu quả nếu người mẹ được phát hiện và điều trị sớm. Vì vậy, phụ nữ mang thai không nên chờ xuất hiện triệu chứng mới đi khám. Khám thai định kỳ, xét nghiệm sàng lọc đúng thời điểm và tuân thủ điều trị khi được chẩn đoán mắc bệnh là những biện pháp quan trọng giúp bảo vệ sức khỏe của cả mẹ và con.

Bé gái 2 tháng tuổi mắc giang mai, nguy cơ nghiêm trọng nếu không được phát hiện, - Ảnh 2.Mắc giang mai, nam thanh niên ngâm lá trầu không gây biến chứng

SKĐS - Sau quan hệ tình dục không an toàn với bạn tình nữ, bệnh nhân xuất hiện tổn thương vết trợt quanh da vùng quy đầu. Tuy nhiên bệnh nhân không đi khám, ở nhà ngâm lá trầu không, tự bôi thuốc khiến tổn thương dát đỏ, trợt lan rộng hơn.

Ý kiến của bạn