Gia đình có còn là vùng an toàn?!
Chỉ trong vòng vài ngày, dư luận bàng hoàng trước 2 trẻ nhỏ bị chính mẹ ruột và người tình của mẹ bạo hành xảy ra tại TPHCM và Hà Nội. Một bé gái 4 tuổi tử vong, một bé khác mới 2 tuổi nguy kịch với nhiều thương tích trên cơ thể khiến nhiều người xót xa, phẫn nộ.

Hình ảnh bé 2 tuổi với nhiều vết thương trên cơ thể vì bị bạo hành. Ảnh: CACC.
Trao đổi với PV, PGS.TS Trần Thành Nam - Phó hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, thực trạng này cho thấy “gia đình không còn là vùng an toàn tuyệt đối” đối với trẻ em như nhiều người từng nghĩ.
Theo PGS.TS Trần Thành Nam, ngôi nhà lẽ ra phải là nơi an toàn nhất của trẻ. Nhưng khi chính người thân trở thành người gây bạo lực, tổn thương mà trẻ phải chịu thường sâu hơn mọi vết thương thể chất. Những vụ việc trẻ bị mẹ, cha dượng hoặc người tình của mẹ bạo hành thời gian qua tại TP.HCM, Hà Nội và nhiều địa phương khác đã khiến xã hội đau lòng.
PGS.TS Trần Thành Nam cho rằng, đây không còn là những vụ việc cá biệt mà phản ánh một “khoảng trống bảo vệ” kéo dài nhiều năm trong chính gia đình và cộng đồng.
“Điều đáng sợ nhất trong các vụ bạo hành trẻ em gần đây là phần lớn hành vi diễn ra trong không gian khép kín của gia đình, nơi trẻ gần như không có khả năng tự vệ hay tìm kiếm hỗ trợ. Nhiều vụ chỉ được phát hiện khi trẻ đã nguy kịch hoặc tử vong. Điều đó cho thấy cơ chế phát hiện và can thiệp sớm vẫn còn nhiều lỗ hổng", PGS.TS Trần Thành Nam nói.
Phân tích nguyên nhân khiến tình trạng trẻ bị bạo hành ngay trong chính gia đình vẫn liên tiếp xảy ra, chuyên gia cho rằng có ba nguyên nhân lớn.
Thứ nhất, là tâm lý xem bạo lực gia đình là “chuyện riêng”. Nhiều người xung quanh nghe tiếng trẻ khóc, thấy dấu hiệu bất thường nhưng ngại can thiệp vì sợ phiền phức, tốn thời gian hoặc “mất lòng”. Sự im lặng này vô tình tạo ra vùng tối để bạo hành tiếp diễn.
Thứ hai, là thiếu kỹ năng nhận diện và quy trình xử lý rõ ràng. Không ít giáo viên, cán bộ cơ sở, nhân viên y tế thấy trẻ có dấu hiệu bất thường nhưng không nhạy cảm để nghi ngờ, hoặc nếu nghi ngờ cũng không biết phải báo cho ai, xử lý thế nào, trong bao lâu.
Thứ ba, là sự nhầm lẫn giữa việc “giữ gìn gia đình” với “bảo vệ trẻ”. Nhiều trường hợp sau khi bị phát hiện, trẻ vẫn bị đưa trở lại môi trường nguy hiểm vì người lớn cho rằng “trẻ vẫn cần mẹ”, trong khi người gây bạo lực chưa thay đổi thái độ, hành vi, chưa được cách ly hoặc kiểm soát.
“Chúng ta có luật, có chính sách, nhưng từ phát hiện đến can thiệp và theo dõi dài hạn vẫn đang bị nghẽn ở cấp cơ sở”, PGS.TS Trần Thành Nam nhận định.
Trẻ bị bạo lực hoặc xâm hại thường sẽ phát ra những “tín hiệu cầu cứu"
Theo PGS.TS Trần Thành Nam, trẻ bị bạo lực hoặc xâm hại thường phát ra những “tín hiệu cầu cứu” qua cơ thể, hành vi và cảm xúc, vấn đề là người lớn có đủ nhạy cảm để nhận ra hay không.
Về thể chất, cần chú ý các dấu hiệu như vết bầm ở vùng mềm, dấu roi vọt, bỏng bất thường hoặc việc trẻ thường mặc áo dài tay để che cơ thể dù thời tiết nóng. Một số trẻ có biểu hiện đau vùng kín, khó đi lại, sụt cân hoặc chậm phát triển.
Về hành vi, trẻ có thể trở nên sợ hãi quá mức, giật mình khi người lớn quát mắng, né tránh một người cụ thể trong gia đình hoặc có biểu hiện tự làm đau bản thân. Một số trẻ ngược lại trở nên hung hăng, bạo lực với bạn bè hoặc động vật như một cách phản ứng với tổn thương mình phải chịu.

Đối tượng Bàn Thị Tâm và Nguyễn Minh Hiệp. Ảnh: Công an Hà Nội.
Ở khía cạnh cảm xúc, nhiều trẻ dần thu mình, ít nói, mất hứng thú học tập, ngủ không yên, thường gặp ác mộng và không còn tin tưởng người lớn.
Theo PGS.TS Trần Thành Nam, người phát hiện đầu tiên không phải lúc nào cũng là cơ quan công an hay y bác sĩ của bệnh viện mà có thể là giáo viên chủ nhiệm, hàng xóm, chủ nhà trọ hay thậm chí người bán hàng quen gần nhà.
Cách nào để tạo "lá chắn" bảo vệ trẻ?
Để tạo “lá chắn” bảo vệ trẻ em, chuyên gia Trần Thành Nam cho rằng, xã hội cần chuyển từ phản ứng sau bi kịch sang phát hiện sớm và can thiệp sớm.
PGS.TS Trần Thành Nam đề xuất, cần xây dựng quy trình can thiệp thống nhất ở địa phương theo chuỗi gồm tiếp nhận thông tin, đánh giá nguy cơ, khám sức khỏe, bảo vệ khẩn cấp, xử lý pháp lý, phục hồi tâm lý và theo dõi dài hạn. Đặc biệt, trẻ phải được cách ly ngay khỏi môi trường nguy hiểm khi có nguy cơ cao thay vì chờ hoàn tất thủ tục hành chính hoặc điều tra kéo dài.
Theo ông, dù Luật Trẻ em 2016 đã cho phép áp dụng các biện pháp bảo vệ khẩn cấp, song việc triển khai thực tế ở cơ sở vẫn còn rất hạn chế.
Một vấn đề khác thường bị bỏ quên là phục hồi tâm lý. Nhiều trẻ bị bạo hành mang những “vết thương vô hình” kéo dài nhiều năm như rối loạn lo âu, trầm cảm, khó hình thành niềm tin hay các mối quan hệ an toàn. Vì vậy, hỗ trợ tâm lý cần trở thành một phần bắt buộc trong quy trình bảo vệ trẻ.
Bên cạnh đó, trẻ cũng cần được dạy kỹ năng tự bảo vệ từ sớm như hiểu về vùng riêng tư cơ thể, biết nói “không” và biết tìm kiếm người lớn an toàn để chia sẻ.
Đánh giá về mô hình phối hợp liên ngành giữa bệnh viện, công an, luật sư, hội phụ nữ, báo chí và nhà trường đang được triển khai ở nhiều nơi, PGS.TS Trần Thành Nam cho rằng, đây là hướng đi rất đáng học tập.
Ông dẫn ví dụ mô hình phối hợp tại Bệnh viện Nhi đồng 2 đã giúp rút ngắn thời gian từ phát hiện đến can thiệp, đồng thời bảo vệ trẻ ngay trong môi trường bệnh viện với hỗ trợ pháp lý và tâm lý kịp thời. Tuy nhiên, các mô hình này cần tiếp tục được mở rộng và chuẩn hóa hơn nữa.
Theo chuyên gia, trong hệ thống bảo vệ trẻ em, nhà trường phải trở thành mắt xích chính thức chứ không chỉ dừng ở việc dạy học. Giáo viên cần được tập huấn về nhận diện sang chấn, quy trình báo cáo và hỗ trợ tâm lý học đường.
Ngoài ra, cần xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông giữa y tế, giáo dục, công an và bảo trợ xã hội để theo dõi những trường hợp trẻ có nguy cơ cao.
PGS.TS Trần Thành Nam cũng đề xuất nhiều giải pháp ở cấp cộng đồng như xây dựng “quy trình 3 bước” cho xã, phường, trường học, trạm y tế gồm nhận diện, báo cáo ngay và bảo vệ trẻ tại chỗ; đưa chuyên gia tâm lý vào mạng lưới bảo vệ trẻ em cấp xã; đánh giá nguy cơ đối với các gia đình có yếu tố rủi ro như nghiện chất, tiền sử bạo lực, rối loạn tâm thần hoặc thất nghiệp kéo dài.

Để tạo “lá chắn” bảo vệ trẻ em, chuyên gia Trần Thành Nam cho rằng, xã hội cần chuyển từ phản ứng sau bi kịch sang phát hiện sớm và can thiệp sớm. Ảnh minh họa - AI.
Bên cạnh đó là xây dựng quy trình phòng chống bạo lực học đường, trường học hạnh phúc; tuyên truyền rõ trách nhiệm pháp lý đối với hành vi che giấu thông tin bạo hành trẻ em; đồng thời thành lập quỹ hỗ trợ phục hồi dài hạn cho trẻ bị bạo hành để chi trả trị liệu tâm lý, học tập và chăm sóc thay thế.
“Công tác bảo vệ trẻ em không thể chỉ là trách nhiệm của riêng gia đình hay một cơ quan nào đó. Mỗi đứa trẻ bị bạo hành là một tuổi thơ bị đánh cắp niềm tin. Xã hội văn minh không được phép để trẻ em lớn lên trong sợ hãi ngay trong chính ngôi nhà của mình”, PGS.TS Trần Thành Nam nhấn mạnh.
Mới đây, Cơ quan CSĐT Công an TPHCM đã bắt khẩn cấp Nguyễn Thị Thanh Trúc (33 tuổi) và Danh Chơn (30 tuổi, cùng trú xã Hòa Hiệp) để điều tra về hành vi “cố ý gây thương tích” đối với cháu N.G.K. (SN 2024, con ruột của Trúc).
Theo điều tra, chiều 2/5, Công an xã Hòa Hiệp nhận tin báo về việc một phụ nữ bạo hành con nhỏ tại nhà trọ ở ấp Phú Lâm. Khi lực lượng chức năng đến nơi, cháu K. trong tình trạng nguy kịch, trên người có nhiều vết bầm tím, trầy xước, vùng đầu rách, lơ mơ và phản ứng chậm.
Bé trai được đưa đi cấp cứu rồi chuyển lên Bệnh viện Nhi Đồng 1 điều trị. Kết quả chẩn đoán cho thấy cháu bị đa chấn thương nặng, tổn thương thận cấp, gãy xương cánh tay cùng nhiều thương tích khác.
Cơ quan công an xác định Trúc và Chơn sống chung như vợ chồng, nhiều lần dùng cây tre đánh cháu bé. Riêng trong ngày 2/5, cháu K. bị đánh nhiều lần vào chân, lưng và đầu. Dù phát hiện bé chảy máu, cả hai vẫn không đưa đi cấp cứu kịp thời
Cũng liên quan đến bạo hành trẻ em, ngày 7/5, Công an TP Hà Nội đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Minh Hiệp (22 tuổi, quê Ninh Bình) và Bàn Thị Tâm (20 tuổi, quê Tuyên Quang) về tội “giết người”.
Theo điều tra, Hiệp và Tâm sống như vợ chồng tại phường Phú Diễn, Hà Nội cùng cháu B.T.H. (4 tuổi, con riêng của Tâm). Chiều 3/5, thấy cháu H. lấy bánh kẹo ăn, Tâm dùng dép đánh nhiều lần vào đầu và mặt cháu, sau đó tiếp tục tát khi cháu đi vệ sinh.
Tiếp đó, Hiệp dùng chân kẹp má cháu rồi lấy vòi hoa sen xịt liên tục vào miệng, mũi cháu bé. Một lúc sau thấy cháu không còn phản ứng, cả hai mới đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện E nhưng nạn nhân đã tử vong.
Quá trình điều tra, Hiệp và Tâm khai nhận thường xuyên đánh đập, bạo hành và bỏ đói cháu H. nhiều ngày.
Cũng trong ngày 7/5, Công an phường Dĩ An (TPHCM) cho biết, đơn vị đang xác minh vụ một thiếu niên bị cha dượng bạo hành gây bức xúc dư luận.
Trước đó, mạng xã hội lan truyền clip ghi lại cảnh một người đàn ông liên tục đánh vào đầu, mặt một thiếu niên khoảng 13-15 tuổi dù nạn nhân khóc lóc, dùng tay che chắn. Người này còn đẩy nạn nhân ngã xuống nền nhà và liên tục đe dọa.
Qua xác minh, người đàn ông trong clip là B.T.Q. (SN 1992, quê Đồng Tháp). Người này thừa nhận hành vi đánh con riêng của vợ, vụ việc xảy ra ngày 4/5 tại khu phố Đông Chiêu, phường Dĩ An.
Cơ quan Công an đã lập hồ sơ, tiếp tục làm rõ vụ việc để xử lý theo quy định và bảo đảm quyền lợi, sức khỏe cho trẻ em.
