Ngày 15/4, BS.CKII Nguyễn Minh Tiến – Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi đồng thành phố (TPHCM) cho biết, bệnh viện vừa cấp cứu một trẻ bị co giật do biến chứng của viêm cầu thận hậu nhiễm liên cầu khuẩn.
Cụ thể, trước nhập viện khoảng 1 tuần, bệnh nhi N. P. D. N. (11 tuổi, nữ, ngụ Tây Ninh) xuất hiện tình trạng sốt, đau họng, sưng đau vùng góc hàm phải. Gia đình đã tự mua thuốc điều trị cho trẻ. Vài ngày sau, trẻ giảm sưng đau góc hàm, bớt sốt, đau họng và được đi học lại.
Tuy nhiên, khi đang học ở trường bé bỗng nhiên đau đầu, buồn nôn và ngất khoảng 1 phút sau đó tỉnh lại và được đưa tới bệnh viện địa phương. Tại đây, bệnh nhi lên 2 cơn co giật toàn thân. Các bác sĩ chẩn đoán bệnh nhi bị viêm màng não nên đã xử trí thở oxy, thuốc chống co giật, tiêm kháng sinh và chuyển Bệnh viện Nhi đồng thành phố.

Bé 11 tuổi bị viêm cầu thận cấp hậu viêm họng do liên cầu beta tan huyết nhóm A biến chứng. Hình minh hoạ.
Tại bệnh viện, bệnh nhi li bì, các xét nghiệm máu, chẩn đoán hình ảnh không ghi nhận tổn thương các cơ quan, chức năng gan thận bình thường. Xét nghiệm máu Streptococus pyogenes ASO > 1000 đv/L (bình thường <200 đv/L), tổng phân tích nước tiểu có đạm (++), hồng cầu (++).
BS.CKII Nguyễn Minh Tiến cho biết: "Bệnh nhi được chẩn đoán viêm cầu thận cấp hậu nhiễm liên cầu sinh mủ (Streptococus pyogenes) hay liên cầu beta tan huyết nhóm A (Group A, beta-hemolytic Streptococcus viết tắt là GAS) biến chứng".
Bệnh nhi được hỗ trợ hô hấp, được sử dụng thuốc kháng sinh, chống co giật, hạ huyết áp, thuốc lợi tiểu.
Kết quả sau 1 tuần điều trị, tình trạng trẻ cải thiện dần, tỉnh táo, huyết áp được duy trì. Xét nghiệm nước tiểu có cải thiện. Trẻ được xuất viện và hẹn tái khám định kỳ.
BS.CKII Nguyễn Minh Tiến cho biết thêm, hiện nay bệnh lý viêm cầu thận cấp hậu nhiễm liên cầu rất ít gặp nên khi xuất hiện trở lại, đặc biệt có kèm theo biến chứng dễ chẩn đoán nhầm lẫn với bệnh lý khác.
Theo đó, viêm họng do liên cầu khuẩn beta tan huyết nhóm A (GAS) ở trẻ từ 3 tuổi trở lên thường khởi phát đột ngột, với các triệu chứng điển hình như sốt, đau họng, nhức đầu, đau bụng, buồn nôn, nôn và ăn uống kém.
Ngoài ra, trẻ có thể xuất hiện các dấu hiệu đặc trưng như amiđan sưng đỏ, có dịch tiết; hạch trước cổ sưng; chấm, đốt xuất huyết ở vòm miệng; viêm lưỡi gà; phát ban dạng tinh hồng nhiệt (ban đỏ, nốt nhỏ xuất hiện ở vùng háng, nách, sau đó lan ra toàn thân và các chi, rồi bong tróc da).

Liên cầu khuẩn nhóm A có thể gây biến chứng viêm màng não, áp xe não, viêm cầu thận...
Ở trẻ dưới 3 tuổi, bệnh thường không có biểu hiện điển hình như ở trẻ lớn. Thay vì viêm họng rõ ràng, trẻ có thể chỉ xuất hiện các triệu chứng như nghẹt mũi, chảy mũi kéo dài, sốt nhẹ, nổi hạch cổ trước và quấy khóc do đau.
Với trẻ nhũ nhi dưới 1 tuổi, bé chủ yếu là quấy khóc, biếng ăn, sốt nhẹ. Nhóm trẻ này thường có yếu tố dịch tễ như sống chung với anh chị hoặc đi nhà trẻ – nơi có nguy cơ lây nhiễm liên cầu khuẩn nhóm A (GAS).
Viêm họng do liên cầu khuẩn nhóm A có thể gây ra hai nhóm biến chứng chính, gồm biến chứng không sinh mủ và biến chứng sinh mủ, với mức độ ảnh hưởng khác nhau đến sức khỏe người bệnh.
Biến chứng không sinh mủ như: Sốt thấp cấp, thấp khớp (viêm khớp phản ứng sau nhiễm liên cầu), viêm cầu thận cấp hậu nhiễm liên cầu. Biến chứng thận thường liên quan đến các chủng GAS gây bệnh như type huyết thanh 12 và 49, có thể xuất hiện rải rác hoặc thành dịch.
Trên lâm sàng, viêm cầu thận cấp có thể gặp ở khoảng 5–10% trẻ bị viêm họng và khoảng 25% trường hợp nhiễm trùng da trong giai đoạn dịch. Biểu hiện đa dạng, từ tiểu máu vi thể không triệu chứng đến tiểu máu đại thể. Hội chứng viêm thận cấp điển hình với nước tiểu màu đỏ hoặc nâu, protein niệu, phù, tăng huyết áp (có thể gây co giật hoặc phù phổi cấp) và suy thận cấp. Tuy nhiên, đa số trường hợp có tiên lượng tốt.
Biến chứng sinh mủ bao gồm: Viêm mô tế bào vùng hầu họng hoặc áp xe quanh amidan; viêm tai giữa; viêm xoang; nhiễm trùng da, mô tế bào; viêm màng não hoặc áp xe não; viêm tĩnh mạch huyết khối tĩnh mạch cảnh. Những biến chứng này cần được phát hiện và điều trị kịp thời để tránh nguy cơ diễn tiến nặng.
Để phòng bệnh, người dân cần chủ động thực hiện các biện pháp như đeo khẩu trang khi cần thiết; hạn chế tụ tập và tránh tiếp xúc gần với người đang mắc bệnh. Đồng thời, cần giữ ấm cơ thể, hạn chế sử dụng nước đá và tránh khói thuốc; duy trì thói quen rửa tay sạch trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và trước khi chăm sóc trẻ. Việc giữ gìn vệ sinh môi trường sống, thường xuyên làm sạch đồ chơi của trẻ cũng rất quan trọng.
Bên cạnh đó, phụ huynh cần đưa trẻ đi uống vitamin A và tiêm chủng đầy đủ theo chương trình tiêm chủng quốc gia. Ngoài ra, mỗi người nên khám sức khỏe định kỳ 6 tháng/lần hoặc ít nhất mỗi năm một lần để phát hiện sớm và điều trị kịp thời các bệnh lý có thể gây viêm họng.
