Quốc hội đang chuẩn bị thông qua Luật điện ảnh bổ sung trong đó điều chỉnh lại một số điều cho phù hợp với những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO như dỡ bỏ rào cản quota để không hạn chế phim ngoại nhập. Nhưng xem ra, việc điều chỉnh bổ sung này chỉ là hợp thức hóa một thực tế là phim ngoại đã chiếm lĩnh thị trường nghe nhìn Việt Nam một cách áp đảo trên cả màn ảnh lớn và màn ảnh nhỏ trong những năm gần đây. Thị trường nghe nhìn Việt Nam cần một bộ luật nghe nhìn để quản lý, điều tiết mọi hoạt động nghe nhìn và bảo hộ điện ảnh dân tộc ở phương diện vĩ mô.
Phim Hàn Quốc đang chiếm lĩnh màn ảnh nhỏ. |
Thực trạng quản lý màn ảnh nhỏ
Từ khi đất nước mở cửa đến nay, màn ảnh nhỏ trở thành sân chơi của nhiều loại đối tượng. Việc mở rộng thêm nhiều kênh mới và thực hiện chủ trương xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình cũng tăng thời lượng cho các tác phẩm điện ảnh trong và ngoài nước đến với khán giả. Sự bùng nổ về nội dung chương trình và thời lượng trên màn ảnh nhỏ kéo theo những biểu hiện thương mại hóa màn ảnh nhỏ ngày càng rõ rệt và công khai. Lâu nay, dư luận thường xuyên bức xúc về tình trạng quảng cáo vô tội vạ trong các chương trình phim, đánh bạc ngang nhiên trên sóng truyền hình, tình trạng phim Hàn Quốc, Trung Quốc chiếm lĩnh màn ảnh nhỏ tạo nên một áp lực văn hóa phiến diện tới đông đảo người xem, trái với chủ trương bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc và cũng không phù hợp với công ước đa dạng văn hóa của Unesco mà Việt Nam đã cam kết tham gia... Thế nhưng, việc chấn chỉnh những bất cập và cả những lệch lạc này xem ra vẫn chưa có một cơ sở pháp lý thích hợp. Dường như mới chỉ có những quy định nhỏ lẻ từ các thông tư hướng dẫn trích xuất từ Luật Quảng cáo, Luật điện ảnh, chưa có một bộ luật chung cho lĩnh vực nghe nhìn.
Có thể nói, hầu như trong số hàng triệu khán giả đã và đang bức xúc trước những thực trạng đó, không mấy người biết rõ việc cắt ngang phim hai, ba lần để nhồi mấy chục spot quảng cáo có vi phạm các quy định về quảng cáo không? Việc đưa những thông tin mang tính chất cá cược, đánh bạc công khai trên sóng truyền hình có vi phạm những quy định quản lý văn hóa nào không hay chỉ đơn thuần vi phạm về đạo đức? Và tình trạng các phim nhựa nhập ngoại trước khi đưa ra rạp phải chịu những kiểm duyệt phân loại và biên tập lại khá khắt khe trong khi cũng chính phim đó được chiếu nguyên vẹn và thoải mái tới mọi đối tượng khán giả trên sóng truyền hình có bộc lộ một sự thiếu đồng bộ, thiếu thống nhất về quản lý đối với phim ảnh trên màn ảnh lớn và màn ảnh nhỏ hay không?
Từ thực trạng đó có thể thấy hiện nay, chúng ta đang thiếu một bộ luật chung cho lĩnh vực nghe nhìn để có thể áp dụng như nhau các điều khoản với cả màn ảnh lớn và màn ảnh nhỏ. Vì thế, việc điều chỉnh Luật điện ảnh như đang tiến hành cũng chỉ là cách vá víu một bộ luật giành cho một lĩnh vực nghe nhìn có ảnh hưởng thực tế tới xã hội không lớn bằng ảnh hưởng từ lĩnh vực nghe nhìn tạo bởi màn ảnh nhỏ.
Phim “bom tấn” của Hollywood. |
Cần sớm xây dựng một bộ luật nghe nhìn
Theo kinh nghiệm các nước phát triển, việc kết hợp hai lĩnh vực điện ảnh và truyền hình trong một tổ chức tạo điều kiện cho sự thống nhất, công bằng và toàn diện trong quản lý lĩnh vực nghe nhìn và cho việc bảo hộ điện ảnh dân tộc tồn tại và phát triển.
Ở nước ta, vấn đề sáp nhập điện ảnh và truyền hình đã được các nghệ sĩ và các nhà quản lý đặt ra từ nhiều năm nay, nhưng dường như không được quan tâm xem xét hoặc đã bị cố tình phớt lờ đi. Trong Hội nghị lấy ý kiến góp ý cho Luật Điện ảnh đầu năm 2006, ông Huỳnh Văn Nam, Giám đốc Đài Truyền hình TP.HCM, đã nói: “Lẽ ra, cần phải xây dựng Luật Nghe nhìn (bao gồm cả điện ảnh và truyền hình) thay cho Luật Điện ảnh. Năm qua, Đài chúng tôi nộp cho cơ quan thuế hơn 60 tỷ đồng. Nếu Nhà nước có chế tài quy định bao nhiêu phần trăm của số tiền này phải đầu tư cho điện ảnh làm phim chất lượng cao... thì quá tốt và nhà đài cũng chẳng ảnh hưởng gì”. Khi đó, các đại biểu đều tỏ ý tiếc rẻ vì nếu biết sớm những điều đó thì khi soạn thảo Luật điện ảnh phải “cột chặt” điện ảnh với truyền hình. Tuy nhiên, Luật điện ảnh đã được thông qua năm 2006 không có điều khoản nào đáp ứng được sự mong mỏi đó. Và lần này, trong Dự án sửa đổi Luật điện ảnh mà Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch vừa trình lên Quốc hội xin thông qua cũng không có điều khoản mới nào kết nối hai lĩnh vực nghe nhìn trong một cơ chế quản lý chung về nội dung hay tài chính để có thể khắc phục những bất công và bất cập hiện nay.
Vì sao trong cùng một lĩnh vực nghe nhìn mà kẻ ăn không hết người lần chẳng ra? Vì sao điện ảnh khó khăn thì bị quản lý chặt chẽ, còn truyền hình lại như được thả nổi? Bao giờ có Luật Nghe nhìn áp dụng chung cho cả hai lĩnh vực một cách đồng bộ? Và trước khi có thể cho ra đời một bộ luật chung cho cả điện ảnh và truyền hình, thì có thể bổ sung một số điều khoản nối kết hai lĩnh vực này để có thêm nguồn lực bảo hộ điện ảnh dân tộc trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO phải dỡ bỏ các rào cản quota cho phim nước ngoài tràn vào không hạn chế, đè bẹp điện ảnh dân tộc không? Đó là những câu hỏi mà những người quan tâm tới số phận của điện ảnh dân tộc và lo lắng trước ảnh hưởng nhiều chiều, nhiều mặt của hoạt động nghe nhìn trên màn ảnh nhỏ đang lo lắng, băn khoăn mong được Chính phủ và Quốc hội lưu tâm giải quyết.
Chung Nguyễn