Bao giờ hết ngủ đông?

Văn hóa – Giải trí
Nhiều người đã từng ví sáng tác và phê bình như đôi chân của cơ thể con người. Chỉ cần một chân ngắn, một chân dài, dù chỉ vài milimét đã khiến sự chuyển động của cơ thể trở nên ngượng ngùng và khó khăn hơn,

(SKDS) - Nhiều người đã từng ví sáng tác và phê bình như đôi chân của cơ thể con người. Chỉ cần một chân ngắn, một chân dài, dù chỉ vài milimét đã khiến sự chuyển động của cơ thể trở nên ngượng ngùng và khó khăn hơn, huống hồ một chân teo tóp, còn một chân khỏe mạnh thì làm sao có thể đi đứng vững vàng được. Có thể hình dung ra sáng tác văn học nghệ thuật và phê bình văn học nghệ thuật hôm nay đang ở tình trạng phát triển không đồng đều như vậy.

Nhận diện phê bình văn học trẻ

Câu chuyện phê bình văn học trẻ lúc nào cũng gây nhức buốt đối với những ai quan tâm đến văn chương nước nhà hôm nay và cả tương lai khi mà sáng tác trẻ thì ồ ạt tung ra thị trường một khối lượng khổng lồ tác phẩm đủ loại, còn phê bình trẻ cứ ngày một teo tóp dần đi.  

Không thể nói ai thích cũng có thể nhảy vào viết phê bình văn chương được, đặc biệt với giới trẻ, điều này lại càng không thể. Bởi lẽ, ngoài năng khiếu, lòng đam mê, phê bình văn học là một bộ môn khoa học, cần được đào tạo một cách bài bản. Thế nhưng, khoa Văn học trước đây trong một thời gian dài ở tất cả các trường đại học và cao đẳng nước ta không có chuyên ngành đào tạo riêng cho những người làm phê bình văn chương đương đại. Theo đó, tiến trình văn học sử Việt Nam hiện đại được dạy trong hầu hết các trường là giai đoạn đổi mới, mốc cuối dừng lại ở 1991- 1992. Còn từ 1993 đến nay, không biết là vô tình hay cố ý, nó đã bị các nhà biên soạn chương trình “đuổi” ra khỏi giai đoạn văn học hiện đại.
 Hội thảo nâng cao chất lượng và hiệu quả phê bình văn học.

Thứ nữa, đến khâu quảng bá tác phẩm phê bình trẻ. Cũng cần phải thừa nhận rằng hiện có một số báo chuyên ngành văn chương có dành một miếng đất “xen kẹt” nào đó cho phê bình văn học, nhưng cũng chỉ chiếm khoảng 1/8 - 1/16 hoặc 1/32, có khi là 1/50 diện tích báo, tức là không quá từ 1/3 - 2 trang. Ấy là chưa kể đến thù lao, nhuận bút cho một bài phê bình cả trang cũng khó mà vượt được cái ngưỡng vài trăm ngàn đồng.

Cuối cùng, về phía xã hội, tâm lý của số đông người Việt Nam ta từ xưa đến giờ thích đàm tiếu, chửi góp, đánh hôi về một tác giả, tác phẩm văn chương nào đó, chứ không thích bàn luận điều gì thật sự nghiêm túc cho ra đầu ra đũa, đi đến tận cùng để tìm căn nguyên. Các chuyện phiếm tếu táo, chọc ngoáy gây sự tò mò, hiếu kỳ thì người ta thích đọc và nghe, còn những chuyện luận lý nghiêm túc thì phần lớn người đời đều vô cảm.

Một dẫn chứng sinh động là cách đây gần chục năm, nhà xuất bản nọ quảng cáo rùm beng rằng cuốn sách “có một lối phê bình, có một giọng điệu riêng, mới mẻ, độc đáo”... nhưng khi đọc cuốn sách thì người ta thấy toàn chuyện tếu táo ngoài văn chương. Thế nhưng nghe nói “bà đỡ” cho cuốn sách đã thu hoạch được gần nửa tỉ vì được phát hành với số lượng rất lớn, tái bản nhiều lần thông qua sự quảng cáo rùm beng, sai sự thật này.

Phần lớn người ta trong thời buổi bây giờ chỉ thích xài món văn chương “mì ăn liền” hay loại phim sitcom kiểu Thư giãn cuối tuần, nhưng oái oăm thay, phê bình trẻ đích thực lại không phải là thứ hàng hóa đó thì nó ngày càng teo tóp đi cũng không lấy gì làm khó hiểu.

Ai cũng biết, lý luận và phê bình văn học là hai chuyên ngành tuy rất gần nhau nhưng không phải là một, vì có những điểm khác nhau, nhất là khâu “tác chiến” tại những điểm nóng của đời sống văn chương. Vì thiếu vắng phê bình nói chung và  phê bình trẻ nói riêng nên việc bám sát đời sống văn chương nhiều khi phó mặc cho công chúng. Ai muốn đọc cái gì và hiểu thế nào mặc kệ.

Ở ta, trong vài chục năm trở lại đây tồn tại một sự thật rất khôi hài, những cuốn sách có rất ít chất văn chương, thậm chí có cuốn mà cơ quan chức năng cấm không cho phát hành thì công chúng lại đổ xô đi tìm đọc. Chẳng hạn các cuốn Sợi xích của Lê Kiều Như, Thể xác lưu lạc của Tiến Đạt, Thời của thánh thần của Hoàng Minh Tường, Sát thủ đầu mưng mủ của Thành Phong, Ở lưng chừng nhìn xuống đám đông của Nguyễn Vĩnh Nguyên...,đặc biệt là các cuốn hồi ký cá nhân của những người nổi tiếng.

Vô hình trung, cái sự “đổ xô đi tìm đọc” ấy của công chúng đã nói lên hai vấn đề: Thứ nhất là để thỏa chí tò mò xem trong cuốn sách ấy tác giả viết gì, viết như thế nào mà các nhà chức trách lại cấm. Thứ hai là tạo áp lực làm đối trọng trong đời sống sinh hoạt văn chương thời mở cửa hội nhập như là một nhu cầu tự thân muốn văn chương nước nhà thời nay phải đổi mới, chứ không thể xài mãi món “ta thắng địch thua” được. Chính sự cấm kỵ đã tạo cơ hội cho các tay in lậu sách tha hồ mà nối bản, kiếm lời.

Các nhà phê bình chuyên nghiệp cả trẻ lẫn già đành phải chịu bó tay, đứng ngoài cuộc mà nghe công chúng bàn tán và xem các tay đầu nậu sách hốt bạc chỉ vì nhà chức trách đã khuyến cáo là không được bàn nhiều về những cuốn sách ấy. Nếu có viết thì cũng chẳng có báo nào dám in, đành chịu. Còn một số cây viết chạy sô và các nhà phê bình tay chiêu tha hồ tung hô lên đến tận mây xanh. Thử hỏi như vậy công chúng biết nghe và tin theo ai trước thực trạng đó. 

Do vậy, sự thiếu vắng đội ngũ phê bình trẻ trong hàng chục năm nay là điều không thể nào cưỡng lại được. Chừng nào chúng ta chưa thay đổi được cách nhìn, chưa đưa ra được định hướng cụ thể cùng với cơ chế đối xử thỏa đáng cho phát triển phê bình văn học thì khi ấy, tình trạng tụt hậu, hụt hẫng và yếu kém vẫn tiếp tục diễn ra không chỉ đối với phê bình văn học mà còn làm phương hại đến thị hiếu thẩm mỹ của công chúng với tư cách là người thụ hưởng và thẩm định cuối cùng tác phẩm văn chương.

  Đỗ Ngọc Yên

Văn hóa phê bình trong nghệ thuật

Phê bình trong lĩnh vực VHNT không hẳn chỉ là chuyện đánh giá khen chê tác phẩm mà quan trọng hơn là sự thông cảm, chia sẻ giữa nhà phê bình và nhà sáng tác để tác phẩm đến với công chúng được hiểu chính xác hơn và cao hơn nữa là vì sự phát triển của VHNT. 

Phê bình trước hết là sự thông cảm và chia sẻ giữa hai đối tượng phê bình và sáng tác về những thành công và thất bại (hoặc thể hiện chưa tới ý đồ của nhà sáng tác) trong tác phẩm. Nhà phê bình là người bạn của nhà sáng tác, chỉ ra nguyên nhân thành bại của tác phẩm chứ không phải là người phán xét tác phẩm. Chuyện đánh giá tác phẩm lại càng không phải chuyện “án tại hồ sơ” để kết luận đúng sai, hay dở. Cái hay, cái dở trong tác phẩm thì bạn đọc, khán giả cũng có thể biết với mức độ khác nhau khi tiếp cận tác phẩm nhưng nguyên nhân hay dở lại cần đến nhà phê bình.
 
 Vở Báo hiếucủa Nhà hát kịch Việt Nam.
Không hiểu tác giả làm sao hiểu được tác phẩm dẫu nhà phê bình có thành ý thiện tâm. Bản thân sáng tác đã là sự chia sẻ những suy nghĩ của nhà sáng tác với cộng đồng, vậy có lẽ nào nhà sáng tác lại quay lưng với nhà phê bình là người tìm đến tác phẩm của mình? Bạn đọc, khán giả cũng cần nhà phê bình không kém tác giả để được người có chuyên môn cắt nghĩa cảm giác thích thú hay bực bội khi tiếp cận tác phẩm.

Một số nhà phê bình hình như tự coi mình là người được quyền nói, được quyền phán xét và khi không hiểu tác giả thì nói và phán xét trật lấc. Sự trật lấc ấy tạo ra khoảng cách giữa người “phán” và kẻ “làm”! Khen và chê sai đều gây bực mình như nhau cho nhà sáng tác. Ngay cả tác phẩm hay chi tiết trong tác phẩm không hay thì nhà phê bình cũng phải hiểu ý định của tác giả định nói gì nhưng cách thể hiện thiếu thuyết phục để thông cảm và bàn cách khắc phục. Ngoài sự khiêm tốn của nhà phê bình, vấn đề còn là sự am hiểu nghệ thuật sáng tác, sự hiểu biết sâu rộng về lý luận và thực tiễn. Tác phẩm được tác giả vật vã nghiền ngẫm hàng năm trời, sao nhà phê bình tiếp cận trong vài tiếng lại có thể phân tích chính xác được nếu không tiếp cận với tác giả. Cảm tính, chủ quan, hiểu biết hạn chế của một số nhà phê bình lấy mình là chân lý mới dễ đẻ ra khoảng cách phê bình - sáng tác.

Những nhà phê bình có tâm huyết và trình độ của chúng ta không thiếu nhưng về phía tiếp thu phê bình cũng có vấn đề. Thực tế trong cuộc sống vẫn tồn tại bệnh thành tích lại chưa có thói quen tranh luận, phản biện nên việc chỉ ra những bất cập trong tác phẩm và nguyên nhân của nó cũng dễ trở thành một hiện tượng! Rõ nhất là trong sân khấu. Chưa nói chuyện khen chê, đi hội diễn thôi mà không có huy chương đem về là “tỉnh” có thể giải tán đơn vị nghệ thuật hoặc ít ra là năm sau cũng rút bớt kinh phí đầu tư!

Các nhà phê bình và nhà sáng tác thường cùng “làng nghệ thuật” (hội chuyên ngành), ra vào thường trông thấy nhau trong bối cảnh bệnh thành tích trầm kha lại thiếu một không khí tranh luận phản biện vốn là điều bình thường nên... thương nhau mà né. Thử mở tất cả các tờ báo ra xem sẽ thấy nhận định chung sân khấu chẳng hạn là đang xuống cấp, kịch bản thiếu chất lượng nhưng từng bài cụ thể về vở diễn, về kịch bản, về chân dung nghệ sĩ lại thấy vở diễn nào, kịch bản nào, ông bà nghệ sĩ nào cũng là “một đóng góp, sáng tạo mới”! Và thực tế đã xuất hiện trào lưu “phê bình ngoại giao”, “phê bình lăng xê”.

Sự phát triển của công tác phê bình không thể tồn tại từ những hô hào về bản lĩnh, trình độ nghề nghiệp của nhà phê bình mà phải bắt đầu từ quan niệm của toàn xã hội. Hiện nhà phê bình không có đất để hoạt động khi báo chí là phương tiện chủ yếu đem phê bình đến với rộng rãi công chúng nhưng bị hạn chế về số chữ. Các nhà phê bình chỉ còn cách in sách và tính cập nhật ít nhiều giảm đi khiến hứng thú viết phê bình cũng giảm, chưa kể sách về phê bình nghệ thuật ít người mua. Đã đến lúc cần có những tờ báo lý luận phê bình chuyên ngành ra đời và tất nhiên có sự tài trợ của cơ quan quản lý chăng?

Sự tiến thoái của phê bình phụ thuộc vào nhu cầu của cuộc sống và trước hết, nhu cầu đó có thật sự ở trong các nhà quản lý VHNT hay không?         

  Lê Quý Hiền

Hỡi các nhà phê bình, hãy dậy đi!

Một đạo diễn nổi tiếng của giới sân khấu (SK) đã từng trả lời một nhà báo rằng: Hiện nay các nhà phê bình đang đi ngủ, còn anh viết và dựng. Không lẽ các nhà phê bình khi thức lại làm phiền anh? Anh rằng: trước những dư luận do sự phê bình không chính xác như hiện nay, chủ yếu của những người không làm phê bình chuyên nghiệp, chỉ thấy chán và không buồn nói.
 
Trong rất nhiều cuộc tọa đàm về văn học nghệ thuật (VHNT) và gần đây nhất là hội thảo Nâng cao chất lượng, hiệu quả phê bình văn học của Hội đồng lý luận Trung ương và Hội Nhà văn VN (10/4/2012), nhiều ý kiến đã riết róng rằng, phê bình VHNT hiện nay rất đáng lo ngại, những người làm nghề không hợp sức đi cùng nhau mà lại tìm cách loại nhau khiến những người cầm bút phê bình đàn anh cảm thấy bất lực, lớp trẻ thì ngại đụng vô khiến hoạt động phê bình VHNT không có chiều đi tích cực.
 
 Phim Trung úy - Bộ phim được làm với kinh phí khiêm tốn 2,6 tỷ đồng.
Nhìn vào đời sống VHNT lâu nay, thấy phê bình VHNT dường như đang có nguy cơ mất hẳn. Bây giờ ít tìm ra được bài phê bình khen chê thích đáng, sắc sảo. Loanh quanh bài viết vẫn là giới thiệu, rào trước, chặn sau vài câu khen chê chung chung. Cái lối “cầm lòng vậy, chiều lòng vậy” của báo chí hiện nay dẫn tới nghịch lý rằng: trong khi cảnh báo về thực trạng của nhiều ngành nghệ thuật, của văn học thì rất nhiều tác phẩm văn học, nhiều vở diễn SK, nhiều triển lãm mỹ thuật, nhiều chương trình ca nhạc… góp phần làm nên bộ mặt văn nghệ nước nhà ấy lại được viết toàn bằng âm hưởng ngợi ca.
 
Đọc vô số những bài viết phê bình, giới thiệu, độc giả sẽ lạc quan về một nền VHNT đang khởi sắc bởi đây đó thấy xuất hiện những nhà thơ cách tân đình đám, những họa sĩ đương đại tiếp thu một cách xuất sắc hội họa thế giới, những vở diễn SK mang giá trị xã hội và nhân văn sâu sắc… Thế nhưng, một nhà phê bình có học vị hẳn hoi, trước kia từng viết những bài phê bình sắc sảo chẳng ai căn vặn vào đâu được lại bảo: Bây giờ đành gác bút phê bình thôi, nói nhiều, đụng chạm lắm chán rồi. Rồi ông thở dài: Nói phê bình VHNT hỗn loạn, khủng hoảng đều đúng. 10 năm trước, 10 tháng trước và cả bây giờ bảo vẫn đúng. Nó là căn bệnh khó chữa lắm.
 
Thực tế thì chúng ta đâu thiếu những nhà phê bình tài năng, cái chúng ta cần là bản lĩnh người cầm bút. Đúng, bản lĩnh của người phê bình luôn  cần thiết, nhưng một khi môi trường tiếp nhận không có thì mọi sự tâm huyết, bản lĩnh trở nên vô nghĩa, nhiều khi mang lại hậu họa cho bản thân. Thế nên nếu cứ đòi hỏi các nhà phê bình phải thẳng thắn chỉ ra cái được, cái non kém của tác phẩm mà chưa tạo được không khí tiếp nhận phê bình thì thật là không công bằng. Vì thế những người làm phê bình sẽ có trăm ngàn lý do để họ không tiện nói ra những nhận xét, những đánh giá, những ý kiến phê bình tác phẩm.
 
Có một thực tế là không khí sáng tạo chung lâu nay kém khởi sắc, những tác phẩm chưa hay chiếm số lượng  nhiều hơn, chả lẽ cầm bút lại chỉ chê. Có lần gọi điện đến một vị có chức quyền ở ngành điện ảnh. Cái gì? Phê bình điện ảnh á? Thôi bỏ qua cái vụ ấy đi. Khi biết đạo diễn phải làm bộ phim với một kịch bản chưa được vừa ý  trong điều kiện thiếu thốn kinh phí, hạn chế cơ hội phát huy sáng tạo thì phê họ cái nỗi gì. Điều kiện làm phim của chúng ta hiện nay có mà chê suốt ngày.
 
Thời nay muốn làm phê bình phải có “dũng cảm phí” bởi nói thẳng, nói thật là phải đương đầu và mất bạn như chơi. Đã có người viết phê bình bị nói xấu, rồi người ta còn vận động cả người khác nói xấu. Thế là thôi. Trong khi người ta đang làm ăn, mình lại cứ đi phê phán, làm mất đi những cơ hội của họ, sao đành. Làm nghệ thuật hiện nay còn vất vả lắm, phải lựa thượng đế thích gì thì chiều, thôi thì đủ cách, miễn sao bán được. Người làm thì chỉ thích nói chung chung, không cần phê bình thì dại gì lại đi làm cái việc người ta không cần, chẳng hóa mua vạ vào thân, chưa kể việc đãi ngộ cho những cây bút vốn có thâm niên cũng rất bạc bẽo.

Phê bình lẽ ra là chuyện bình thường trong sự phát triển của VHNT, nhưng hiện nay, sự tiếp nhận phê bình không bình thường, nói thẳng suy nghĩ của mình thì lập tức bị mang tiếng là “đánh” và lập tức bị cô lập. Điều nguy hại là hiện nay người ta không còn coi phê bình là một khâu sáng tạo, sự tiếp nhận lẽ ra phải là một mặt của sáng tạo nghệ thuật, nhưng hiện giờ, nó bị đẩy ra ngoài. Vì thế, một nhà phê bình đã chua chát rằng, lúc này chưa phải là lúc phê bình trên báo chí!  

  Lan Hương


Ý kiến của bạn