
Gia đình quây quần gói bánh chưng tại làng cổ Hùng Lô, dưới chân núi Hùng.
Làng cổ Hùng Lô vào vụ bánh Tết
Những ngày giáp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, dưới chân núi Hùng, làng cổ Hùng Lô (xã Hùng Lô, tỉnh Phú Thọ) bước vào thời điểm tất bật nhất trong năm. Trong những nếp nhà cổ thâm trầm, giữa các con ngõ rực sắc cờ xuân, người dân chuẩn bị lá dong, gạo nếp, đỗ xanh để gói những mẻ bánh chưng đầu tiên.
Ở ngôi làng có lịch sử từ thời Hùng Vương này, phong tục làm bánh chưng ngày Tết đã trở thành nếp sống truyền đời. Không chỉ là một món ăn, bánh chưng còn là sợi dây nối quá khứ với hiện tại, nối truyền thuyết Lang Liêu với đời sống hôm nay.
Theo Nhà nghiên cứu Phạm Bá Khiêm, nguyên Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian tỉnh Phú Thọ, mỗi nguyên liệu làm nên bánh chưng đều mang ý nghĩa biểu trưng sâu sắc. Gạo nếp, đỗ xanh, thịt lợn - những sản vật quen thuộc của nền nông nghiệp lúa nước – được coi là tinh túy của đất trời, gắn với quan niệm ngũ hành và triết lý sống của cư dân Việt cổ. Chính sự kết hợp hài hòa ấy đã làm nên giá trị văn hóa bền vững của chiếc bánh chưng trong đời sống người Việt.
Giữ nguyên hương vị truyền thống
Không chỉ riêng Phú Thọ mới có nghề làm bánh chưng, song tại Đất Tổ - nơi lưu truyền truyền thuyết về nguồn gốc bánh chưng, bánh giầy - người dân vẫn giữ gần như nguyên vẹn cách làm truyền thống.



Gạo nếp, đỗ xanh, thịt lợn - những sản vật của nền nông nghiệp lúa nước làm nên hồn cốt bánh chưng Đất Tổ.
Nghệ nhân Nguyễn Văn Ninh, Trưởng làng nghề bánh chưng, bánh giầy xã Hùng Lô cho biết: gạo phải tuyển chọn kỹ, hạt trắng, đều, dẻo và thơm; đỗ xanh là loại ngon, chỉ ngâm mềm chứ không đồ chín sẵn; thịt lợn phải tươi, sạch, có đủ nạc mỡ để nhân không khô. Lá dong được chọn kỹ, dùng lá bánh tẻ, mặt xanh thẫm đặt vào trong để khi chín bánh có màu xanh tự nhiên.
Từ khâu vo gạo, đãi đỗ, ướp thịt, lau lá đến gói và buộc lạt, mọi công đoạn đều đòi hỏi sự tỉ mỉ, cẩn trọng. Chiếc bánh vuông vắn, gói trong lớp lá dong xanh mướt, không chỉ ngon miệng mà còn mang đậm dấu ấn văn hóa của vùng Đất Tổ.


Từng lớp gạo, đỗ, thịt được gói ghém cẩn trọng qua đôi bàn tay khéo léo của người làng Hùng Lô.
Quá trình làm bánh cũng là dịp để gia đình quây quần. Mỗi người một việc, tiếng trò chuyện rôm rả hòa cùng tiếng lá dong sột soạt tạo nên không khí đầm ấm đặc trưng của những ngày cuối năm. Dù nhiều hộ ở Hùng Lô làm bánh quanh năm để phục vụ thị trường, đến Tết, các gia đình vẫn giữ thói quen sum họp, tự tay gói và chuẩn bị bánh cho đại gia đình.
Để bánh chưng dền, dẻo và hòa quyện hương vị, bánh phải được nấu liên tục ít nhất 7-8 tiếng. Khi chín, lớp nếp mềm nhuyễn, thoảng hương lá dong, vị bùi của đỗ xanh và vị ngậy của thịt quyện vào nhau tạo nên hương vị đặc trưng khó lẫn.
Di sản sống giữa đời thường
Trong nhịp sống hiện đại, nhiều phong tục truyền thống đã ít nhiều thay đổi. Tuy vậy, bánh chưng vẫn giữ vị trí đặc biệt trong đời sống tinh thần của người Việt mỗi dịp Tết đến xuân về. Thưởng thức bánh chưng tại chính miền Đất Tổ - nơi khởi nguồn truyền thuyết càng làm đậm thêm cảm giác thiêng liêng và tự hào về cội nguồn.

Bánh được nấu suốt 7–8 giờ bên bếp lửa hồng, nơi giữ lửa yêu thương của gia đình.
Nghề làm bánh chưng, bánh giầy ở Phú Thọ đã được ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, khẳng định giá trị lịch sử và bản sắc riêng của vùng đất thờ Vua Hùng.
Từ truyền thuyết Lang Liêu đến mâm cỗ Tết hôm nay là hành trình bền bỉ của ký ức và niềm tin. Dù thời gian có đổi thay, chiếc bánh chưng xanh vẫn hiện diện trong mỗi gia đình Việt như biểu tượng của đoàn viên, của lòng biết ơn tổ tiên và sự gìn giữ những giá trị văn hóa không thể mai một.

Những chiếc bánh chưng vuông vắn, xanh mướt, kết tinh hương vị truyền thống Đất Tổ.