Bác sĩ lên rừng đỡ đẻ

Thời sự
BS. Cil Khoa, Trưởng trạm y tế xã Dạ Chais, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng, vừa nhặt rau, vo gạo để nấu bữa trưa, anh nói với tôi: bọn tớ cắm bản đã quen rồi, ngoài việc làm chuyên môn khám chữa, để cho đồng bào tin là bị đau phải đi trạm xá

BS. Cil Khoa, Trưởng trạm y tế xã Dạ Chais, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng, vừa nhặt rau, vo gạo để nấu bữa trưa, anh nói với tôi: bọn tớ cắm bản đã quen rồi, ngoài việc làm chuyên môn khám chữa, để cho đồng bào tin là bị đau phải đi trạm xá, chứ không ở nhà cúng ma nữa, thì còn phải biết nấu cơm, rửa bát để lo cho bản thân, vì cứ phải ở miết tại đây 1 tháng mới được đảo về nhà xem vợ, con làm ăn, học hành ra sao?

Trong cõi Đa Nhim

Anh Cil Khoa chạy vào phòng ngủ của mình, lôi ra đôi ủng cao đến đầu gối ướm vào chân tôi nói: "Nhà báo muốn vào buôn Klong Ơn là đầu nguồn của Thủy điện Đa Nhim, thì phải đi cái này vào mà tránh vắt bâu, rắn cắn". Nghe anh Khoa nói những chuyện có vẻ kinh hoàng đó mà nhẹ như không thế, tôi không khỏi thắc mắc sao cái thôn chỉ cách trung tâm xã chưa đến 1km này lại có những chuyện như xứ miệt rừng U Minh hoang vu nơi miền Tây Nam Bộ. Anh Khoa chỉ cười nói như đánh đố: "Anh đi rồi khắc biết thôi". Không ngần ngại, tôi đút chân vào ủng cao đến đầu gối, lẽo đẽo theo anh lội bộ vào cái nơi mà nhiều người chỉ nhắc đến thôi cũng thấy lạnh sống lưng, vì nguy cơ bị rắn cắn luôn rình rập.
 
Bác sĩ Cil Khoa. 
Sau khi đã lọt vào cái lòng chảo của những con suối chằng chịt và những sình lầy nhão nhoét, anh Khoa như một người bản địa thuộc làu vùng này nói: “Chính nơi này hứng trọn toàn bộ nước của những cánh rừng nguyên sinh trong khu vực Vườn quốc gia Biddoup - Núi Bà, tạo thành một túi nước khổng lồ nơi sinh thủy của dòng suối Đa Nhim và tạo ra một Thủy điện Đa Nhim hùng vĩ. Nhưng đồng bào dân tộc Chins vẫn còn mang cuộc sống của cái thuở hồng hoang, quen săn bắt và kiếm ăn trong rừng”. Câu chuyện của anh Khoa, mới bắt đầu nói với tôi đã bị cắt ngang bởi một lũ trẻ đang hò reo ầm ĩ. Chúng nhảy tùm xuống dòng nước đang chảy vắt qua bãi sình, rồi tụm lại với nhau như đang tìm kiếm cái gì đó? Rồi một thằng con trai khoảng 9 tuổi đen nhẻm, giơ cao lên đầu một con rắn nó vừa tóm được, con rắn oằn lên rồi quấn chặt vào cổ tay đen sì của nó, nhưng vẫn không thoát được, vì cái đầu đã bị túm chặt. Theo chân những đứa trẻ, chúng tôi chui vào một ngôi nhà mái lá, tường gỗ, rộng không quá 20m. Ngoài chỗ ngủ được đóng bằng mấy tấm ván ra, thì phần còn lại dùng để làm bếp. Đám trẻ như đã thành thạo với công việc làm bữa, chúng dùng tay kéo những con rắn vừa bắt được thẳng đơ ra, rồi hơ lên bếp lửa. Cil Khoa nháy mắt với tôi: "Nhà báo muốn chén thịt rắn nướng, đặc sản Đa Nhim thì tí nữa ở đây đợi chín tôi xin cho một khúc mà thưởng thức". Dụi mắt vì khói, thằng bé Bon Tô Hà Bình cho tôi biết: Bố mẹ đi làm nương tối mới về, bọn trẻ ở nhà tự tìm thức ăn. Nguồn thực phẩm tươi sống của lũ trẻ là những thứ chúng săn được trên bãi sình lầy gồm: rắn, nhái và chuột. Con gì cũng chỉ có một cách chế biến là nướng lên cộng với gia vị muối ớt là chén. Nhìn lũ trẻ lột da những con rắn vừa nướng, chín tới đâu bóc thịt chấm muối chén ngon lành giống như thổ dân rừng rậm Nam Mỹ, anh Khoa nói: Thỉnh thoảng "Tào Tháo" cũng hỏi thăm, từ khi có trạm y tế, bọn chúng cũng biết cõng nhau lên xin tôi thuốc, nhưng tất cả trẻ ở đây đứa nào cũng mang đầy một bụng giun, bị còi cọc, chậm phát triển. BS. Khoa cho biết thêm: "Đồng bào ở đây chỉ có mỗi chỗ ngủ, còn việc vệ sinh thì bạ đâu đi đó, tắm giặt thì cũng chỉ dùng nước suối, nên nguy cơ mắc bệnh ghẻ lở, đau mắt lúc nào cũng xảy ra. Trạm y tế liên tục xuống vận động nhưng bà con chỉ thay đổi được điều duy nhất khi ốm thì đi khám xin thuốc tốt lắm rồi".

Được coi là có trình độ cao nhất buôn học đến lớp 11, Kơ Đơn Hà Rê hiện đang là Bí thư đoàn xã, nhà ở trong buôn, nói với tôi: "Ở đây, đồng bào vẫn nghèo lắm, vì còn nhiều tập tục lạc hậu, đám ma thì ăn uống cả 3 ngày, đám cưới thì nhà ai đông con gái coi như vỡ nợ, mỗi lần đi bắt chồng phải mất 3, 4 con bò cho nhà trai. Còn dân cư sống giữa bãi lầy này cứ mùa mưa là ngập trắng băng, rắn rết, cóc, nhái tìm vào cả nhà ngủ cùng người. Nhiều lần rắn độc đã cắn chết người trong buôn. Ở đây không có đường đi, không có luôn cả điện, nên gà lên chuồng là cũng là lúc cả buôn đi ngủ. Chẳng biết có phải thế không mà dân số cứ tăng, nhà nào cũng đông con, may vừa rồi có trạm y tế vận động được một số chị em đặt vòng tránh thai, nên dân số năm nay bớt tăng như mấy năm trước”.

Nguồn nước sinh hoạt của bà con.
 
Gắn bó với buôn làng

Chưa hoàn hồn vì những cảnh trẻ con ăn rắn như làm xiếc ở buôn Klong Ơn. BS. Khoa còn cho tôi biết anh thường xuyên phải lên rừng đỡ đẻ cho đồng bào. Số là toàn xã Dạ Chais có 5 buôn, trải rộng bằng cả một huyện ở đồng bằng. Anh Khoa cho biết: "Do đa số đồng bào còn lạc hậu, có thai ngày nào cũng không biết, cũng chẳng đi thăm khám gì. Nên cứ đi lên rẫy ở cho đến tận ngày sinh, nhiều người đến lúc đau quá không về được nữa mới nhờ người chạy về trạm y tế gọi bác sĩ". Mới đây nhất là vụ chị K’Reo, buôn Điêng Cơ Si cùng chồng đi khai hoang tít trong rừng, nửa đêm trở dạ, không biết làm thế nào. Anh chồng đành để vợ vật vã giữa rừng, chạy về gọi BS. Khoa. Cũng chẳng kịp hỏi han gì, anh Khoa xách đồ nghề gồm băng gạc, giấy bản băng rừng hơn 2 giờ đồng hồ mới tới nơi. Chị K’Reo lúc này đã bị vỡ ối, mà cái thai lại bị ngôi ngược. BS. Khoa hối thúc anh chồng đi chặt cây, buộc lại làm 2 cái chạc, gác chân sản phụ lên, rồi động viên, hướng dẫn chị cách nín hơi, rặn và nhẹ nhàng dùng tay kéo đứa bé ra. Sau gần 1 giờ đồng hồ, anh Khoa đã giúp chị K’ Reo mẹ tròn con vuông. Đỡ được một cậu bé trai, chẳng cân kẹo gì, chỉ biết lúc phát mấy cái vào mông cho thằng bé khóc thì trời cũng vừa sáng. Nhớ lại lúc đó, anh Khoa nói: "Chuyện đỡ đẻ thì không khó, chỉ cần hướng dẫn cho sản phụ là họ yên tâm thực hiện theo chỉ dẫn của mình. Nhưng cũng rất may là sống với đồng bào lâu năm nên mình nói được tiếng họ, thì mới hướng dẫn được". Kể từ khi từ Bệnh viện huyện Lạc Dương về công tác tại Trạm y tế xã Dạ Chais, BS. Khoa đã 6 lần phải lên rừng đỡ đẻ, còn những lần đồng bào gọi đến nhà giúp thì không nhớ nổi. Giải thích về điều này anh nói: Đồng bào ở đây trước kia rất giữ ý và xấu hổ khi để người khác nhìn thấy cơ thể mình. Nên khi sinh nở họ không dám đến trạm y tế. Bây giờ chúng tôi phải vận động mãi thì họ mới bắt đầu có thói quen này. Nhờ vậy bây giờ công tác khám chữa, rồi theo dõi sức khỏe cộng đồng, đã nhận được sự hợp tác của bà con. Anh Khoa đưa cho tôi những con số để làm ví dụ: năm 2006 chỉ có 54 chị em phụ nữ áp dụng biện pháp tránh thai, nhưng qua vận động tuyên truyền của trạm y tế thì con số này đã tăng lên 121 người vào năm 2007. "Làm được điều này đã là một thành công với những người đi cắm bản chúng tôi nhiều lắm rồi, vì lúc nào trạm y tế cũng phải cáng cả một núi công việc: Nào là tuyên truyền bà con chăm sóc trẻ để hạ bớt tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, trước kia thì 100% các cháu dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng, nay sau nhiều năm phấn đấu, chúng tôi đã rút xuống được còn 41,7%, rồi cả việc vận động đồng bào làm hố xí hợp vệ sinh, giếng nước sạch cũng đến tay trạm y tế xã. Cả trạm có 5 người lúc nào cũng tối mặt tối mũi với công việc khám chữa và vận động đồng bào ăn ở sạch, sống khoa học. Tuy vất vả là vậy nhưng mức lương và phụ cấp của chúng tôi rất thấp, là bác sĩ trưởng trạm như tôi tổng thu nhập chỉ được 1,8 triệu đồng, còn các anh em khác thì thấp hơn nữa, do vậy đời sống cũng khó khăn, một tháng cũng chỉ dám về nhà một lần mặc dù nhà chỉ cách nơi làm việc ngót 100km”.

Với những công việc mà những người thầy thuốc đang làm ở tất cả các nơi vùng xa vùng sâu của cả nước, để chăm sóc sức khỏe cộng đồng, ngoài chuyện cơ sở vật chất phục vụ chuyên môn còn bị thiếu thốn thì thu nhập và đời sống của họ cũng vô cùng khó khăn.

Phóng sự của Gia Nguyễn


Ý kiến của bạn