Hà Nội

Ba kích - Ôn thận, tráng cốt

09-08-2011 2:27 PM | Y học cổ truyền

Ba kích còn gọi là ba kích thiên, dây ruột gà. Tên khoa học: Morinda officinalis How., họ cà phê (Rubiaceae). Ba kích là cây thuốc phân bố ở một số tỉnh trung du và núi thấp phía Bắc (Quảng Ninh, Lạng Sơn,

Ba kích còn gọi là ba kích thiên, dây ruột gà. Tên khoa học: Morinda officinalis How., họ cà phê (Rubiaceae). Ba kích là cây thuốc phân bố ở một số tỉnh trung du và núi thấp phía Bắc (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Tuyên Quang...). Bộ phận dùng: là rễ phơi hay sấy khô của cây ba kích thiên. Khi sử dụng, ủ mềm, rút bỏ lõi, thái mỏng, phơi khô hoặc tẩm rượu sao qua.

Theo Đông y, ba kích vị cay ngọt, tính ôn; vào kinh can thận. Tác dụng bổ thận tráng dương, cường cân tráng cốt, khu phong trừ thấp. Dùng cho các trường hợp liệt dương di tinh, đau bụng do hư hàn lãnh thống, đau lưng mỏi gối, tiểu tiện không kìm (di niệu bất cấm), phong hàn thấp tý.

Một số bài thuốc chữa bệnh có dùng ba kích

Trường hợp thận hư, liệt dương, nam giới xuất tinh sớm, phụ nữ dương hư không có thai.

Bài 1: Hoàn ba kích thiên: ba kích 16g, ngũ vị tử 6g, đảng sâm12g, thục địa 12g, nhục thung dung 12g, long cốt 12g, cốt toái bổ 12g. Nghiền thành bột mịn, luyện với mật ong làm hoàn. Ngày uống 2 - 3 lần, mỗi lần 12g, chiêu với nước. Trị thận hư, đau lưng, hoạt tinh.

 Vị thuốc ba kích.

Bài 2:

ba kích 12g, đảng sâm 12g, phúc bồn tử 12g, thỏ ty tử 12g, sơn dược 24g, thần khúc 12g. Tán thành bột, luyện với mật ong làm hoàn. Ngày 2 lần, mỗi lần 12g, chiêu với nước. Trị nam giới liệt dương, xuất tinh sớm, nữ giới dương hư không có thai.

Bài 3: ba kích 15g, thục địa 15g, sơn thù 12g, kim anh 12g. Sắc uống. Trị thận hư, di tinh, nam giới liệt dương.

Trường hợp gân cốt mềm yếu, lưng và đầu gối đau buốt.

Bài 1: Hoàn kim cương: ba kích 50g, tỳ giải 50g, nhục thung dung 50g, đỗ trọng 50g, thỏ ty tử 50g, lộc thai 1 bộ. Tán thành bột, luyện với mật làm hoàn. Ngày 2 - 3 lần, mỗi lần 8g, chiêu với nước đun sôi.

Bài 2: Rượu ba kích ngưu tất: ba kích 30g, ngưu tất sống 30g, rượu 500ml, ngâm 7 ngày, bỏ bã, uống với nước nóng, mỗi lần 30 - 60ml. Không được uống say. Dùng cho các trường hợp liệt dương; đau lưng mỏi gối, chân yếu run chân.

Bài 3: Rượu dương hoắc huyết đằng ba kích: dâm dương hoắc 40 - 60g, kê huyết đằng 40 - 60g, ba kích 40 - 60g, đường phèn 30g, rượu trắng 750ml. Ngâm sau 7 ngày. Dùng mỗi lần 20 - 30ml, ngày 2 lần. Dùng cho các trường hợp thận hư, phong thấp có các triệu chứng đau nhức xương khớp, đau lưng mỏi gối.

Dùng cho các trường hợp muốn cai rượu: ba kích 15g, đại hoàng chế với rượu 30g. Ba kích thái lát, sao với gạo nếp cho đến khi gạo cháy đen, bỏ gạo cháy, lấy ba kích tán thành bột mịn trộn với bột mịn đại hoàng (hoặc tán cả 2 thứ cùng lúc). Mỗi lần lấy 3g bột uống với nước đường hoặc mật. Mỗi ngày 1 lần.

Liều dùng: 12g đến 20g.

Kiêng kỵ: Người âm hư hoả vượng, đại tiện táo kết đều không được dùng.

TS.Nguyễn Đức Quang


Bình luận
Xem thêm bình luận
Ý kiến của bạn