Sau ngày gặp gỡ tại Hội thảo quốc gia 50 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ ngay trên chiến trường xưa (16/4/2004), tôi còn nhiều dịp gặp ông từ Yên Thành, Nghệ An ra Hà Nội dự các hoạt động của Đoàn đại biểu các anh hùng quân đội thời chống pháp. Quả thật chiến công của Đại tá Phan Tư là... có một không hai.
Trước khi kể về kỳ tích phá thác của người anh hùng, xin phép dành ít dòng như những "tâm nhang" để tưởng nhớ tri ân đồng đội của chúng tôi. Các anh hùng liệt sĩ vô danh thanh niên xung phong cùng làm nhiệm vụ như Đại tá Phan Tư còn nằm lại dọc con đường vừa mới mở.
Những đồng đội - anh em
Sau các chuyến công du bí mật của Bác Hồ sang Liên Xô, Trung Quốc từ tháng 1/1950 tới giữa năm 1953, khi viện trợ quân sự của hai nước với khối lượng lớn đã vận chuyển áp sát phía bên kia biên giới và Trung ương chủ trương mở các chiến dịch lớn ở Tây Bắc thì các đơn vị bộ đội, thanh niên xung phong (TNXP), dân công được lệnh cấp tốc mở các đường thủy, đường bộ hoàn toàn mới thông sang nước bạn qua Ma Lù Thàng, Lai Châu. Mấy lần trở lại con đường xưa, nay đã là quốc lộ 4D Lai Châu - Sa Pa nối dài từ Pa So lên cửa khẩu, ông Nguyễn Tiến Năng nguyên trợ lý cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, từng là cán bộ chỉ huy các đơn vị TNXP mở đường cho biết, sau chiến thắng Điện Biên, quân của ông vẫn ở lại mở rộng đường và tìm đưa hài cốt anh em hy sinh trong khi làm nhiệm vụ về quy tập tại nghĩa trang Chăn Nưa, huyện Sìn Hồ. Trong đó có các liệt sĩ phá thác Nậm Na cùng Phan Tư. Tôi viết đến đây thì nhớ ngay, điện hỏi ông Năng nay là Phó Chủ tịch Hội Cựu TNXP Việt Nam: Nghĩa trang 67 phần mộ đồng đội ngập sâu dưới lòng hồ thủy điện Sơn La đã được di dời đi chưa, và nơi các anh hùng vô danh nằm lại có được mang tên "Nghĩa trang liệt sĩ TNXP" không? - Chưa và không!
Từ phải sang: Các anh hùng Phùng Văn Khầu, Phan Tư, Phạm Đắc Song trước Phủ Chủ tịch sau cuộc gặp thân mật của Chủ tịch nước. Ảnh: Trịnh Tố Long |
Về chuyện này, anh hùng đại tá Phan Tư cũng tỏ ý bức xúc nói: Ngày đó, sau những thành công phá thác của ông, bên TNXP cũng được lệnh vừa bổ sung người sang các đội phá thác của quân đội, hoặc lập riêng các tổ đặc trách công tác khai luồng sông mà ông là người tới phổ biến kinh nghiệm. Nay ôn lại sự hy sinh của anh em thì thật quá đau lòng, tuổi xuân cống hiến rồi ra đi không để lại cả đến tên tuổi, quê quán của mình. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói một câu đầy ý nghĩa: Bộ đội và TNXP là anh em.
Ông Tư kể, mình tận mắt từng chứng kiến mấy liệt sĩ TNXP khi tập thử phá thác, và cả khi đi dò thác dưới sông thấy những tảng đất đá, cây cối kéo theo mấy anh em từ trên sườn núi xuống lòng sông vực sâu. Đất đá trên núi ở đây rất dễ sụt lở từng mảng lớn ở những đoạn trên đường dưới sông... Thương lắm, bao anh em mất tích không được tìm kiếm ngay, rồi sau các đơn vị tự giải thể - không hồ sơ, bàn giao gì vì không có cơ quan chủ quản...
Hội cựu TNXP ra đời (năm 2005), đang gỡ dần, không dễ... để quán triệt ý Đảng lòng dân "uống nước nhớ nguồn".
Mở đường bằng cái đầu
Dòng sông Nậm Na thượng nguồn Sông Đà từ đường biên về mặt trận dài 120km. Có tới trên 90 thác lớn nhỏ chặn dòng, mà cực kỳ khó phá, siêu nguy hiểm là 21 khối đá khổng lồ chặn đứng, cắt ngang dòng chảy, tạo nên thác cao, bên dưới là vực sâu trực chờ nuốt chửng xuống đáy sâu mọi thuyền, mảng, để rồi sau đó, ở một đoạn xa nổi lên vật vờ những mảnh vụn, cây que, gỗ ván vỡ nát, vô dụng. Phan Tư được nghe mấy cao thủ thượng hạng làm nghề ngược xuôi sông nước trong vùng khuyên can đừng làm "hà bá" nổi giận: Dù có chở hàng chót lọt ngược xuôi thì cũng mất 1 - 2 tháng, gạo thóc mốc meo, súng đạn hoen gỉ, quân trang mục nát, làm sao kịp phục vụ chiến dịch...?
Chủ trương của trên phá thác thông dòng là đúng, hết sức cấp thiết. Trung đội 51 thuộc C124, F555, E1S1, Sư 351 được "chọn mặt gửi vàng". Phan Tư từng nổi tiếng "gan lì" phá bom, đêm đêm cầm thuốc đứng cạnh miệng hố bom nổ chậm, làm "lộ tiêu" tránh đường cho đồng đội, dân công... qua nhanh an toàn từ các chiến dịch Tây Bắc, Hòa Bình từ năm 1952.
Nay được giao công việc mới hoàn toàn khác lạ: đặc công... nước: Khảo sát trận địa, ngụp lặn tìm nơi đặt bộc phá... "đánh" sao đạt hiệu lực tối đa của gói thuốc. Không nhất thiết khối đá to cần bộc phá lớn, mà lượng định chất đá và thế đá để đạt nổ tiết kiệm, diện phá lớn. Tất cả đều cần đến bộ óc suy nghĩ phát huy sáng kiến tự túc về "vũ khí chiến đấu". Thuốc nổ thì sẵn: Bom nổ chậm, bom "điếc" Pháp "tiếp tế", chỉ cần người đi thu nhặt về. Dây cháy chậm trên cho nhưng hết sức dè xẻn.
Trung đội trưởng Hoàng Viết Sâm đã hơn một tuần đứng ngồi không yên vì chưa ai hiến được kế gì để bọc gói chất nổ thay vải ni-lông. Dạo đó, ra Tết Nhâm Ngọ (1954), gạo tẻ từ vùng tự do Thanh, Nghệ dân công chuyển lên chưa kịp, đơn vị ăn nếp thay, nhiều người không ăn nổi. Riêng Tư đánh tì tì, càng béo khỏe ra.
Những đêm trằn trọc thoảng nhớ làng quê nghèo Tam Thọ, Thọ Thành, 7 tuổi đã đi ở, nhưng Tư được cái trời cho sức khỏe, khéo tay, nhanh mắt, chả thua kém ai việc gì. Vào dịp tết nhất lễ lạt, cậu thường được nhờ đi gói bánh chưng, bánh tét. Gói, buộc... luộc, rồi đem bánh ngâm trong nước lạnh cho bánh chắc, để lâu... Bỗng óc Tư lóe lên ý nghĩ: Lá chuối tươi hơ lửa để gói... bộc phá?
Thế là Tư tung chăn ngồi dậy dù đã quá nửa đêm, hóa ra cả tiểu đội cũng không ai ngủ được, cùng reo lên: đã tìm được vỏ gói bộc phá! Chuối rừng, lạt giang, mai... tha hồ mà gói, buộc, càng nhiều, càng chặt, sức phá càng mạnh. Chỉ huy đơn vị cho thực hiện ngay lúc mới sớm ra. Nhưng... tắc! Lấy đâu ra sáp, nhựa đường để trít kín lỗ tra nối dây cháy chậm vào thuốc nổ?
Ý kiến lấy đất sét bịt kín chống nước thấm vào thuốc được áp dụng ngay, nhưng anh em cố đào sâu một mét đất vẫn bở tơi. Cả đơn vị từ A, B, C đều thất vọng. Anh nuôi cũng theo dõi, thất vọng. Cơm nấu cho quá nước... nhão nhoét, ít người nuốt được. Phan Tư vẫn ăn và nghe ai đó phàn nàn: Cơm nát... dính quá...! Tiếng "dính quá" lọt tai, Tư chộp ngay, đứng lên kêu to: "Cơm nếp keo dính, các cậu ơi"! Lập tức cuộc thử "keo hàn ngòi nổ" được tiến hành thành công với thời gian ngâm nước gấp đôi mà thuốc nổ trong bọc lá chuối vẫn không thấm nước: Tiếng nổ đanh, sức công phá mạnh do gói nhiều lớp lá, buộc chặt.
Một lần đồng đội nghẹt thở
Lần ấy tại Pa Tần trên thượng nguồn. Chiều hôm trước đã hoàn tất mọi việc chuẩn bị để sáng sau ra phá. Đêm khuya có cơn mưa đầu nguồn, anh em lo. Nhưng không sao: chiếc cầu mảng nối bờ ra khối đá, cái thang 6m, cây sào, dây nhợ... vẫn buộc chặt trên mảng. Công việc theo trình tự: một chỉ huy cầm cờ hiệu thổi còi ra lệnh, hai người giữ đầu thang, một chiến sĩ cầm chặt đầu sào, một nữa cầm bật lửa - diêm châm ngòi nổ. Phan Tư ôm bộc phá một tay, tay kia nắm sào, xuống thang tới chỗ đặt thuốc đã đánh dấu. Đêm mưa nước hơi đục, dâng cao cũng chỉ 4m. Anh đã tính toán: xuống mấy bước thang, đặt thuốc, trở lên kịp chạy lên bờ cùng anh em.
Lệnh chỉ huy châm ngòi dây cháy chậm. Phan Tư xuống thang, tia lửa rẽ nước phun mạnh xoáy nước sâu dần... Anh đâu ngờ một búi rác to vừa dạt tới lấp cả vị trí định đặt mìn, phải lúng túng gỡ. Vừa đặt xong, trong đầu chỉ kịp nghĩ: "Phải hy sinh rồi...".
Bục... oàng! Tiếng nổ vang động mặt sông, tung lên cột nước cao 6,7m. Đồng đội đã kịp chạy lên bờ, nấp sau các mô đất, bàng hoàng đứng dậy cùng như thét lên: "Phan Tư"...! Không ai dám nói tiếp mấy từ khủng khiếp về sự ra đi của anh.
Một người chạy về đơn vị báo cáo. Anh em ra rìa sông im lặng nhìn mặt nước phẳng lặng sủi bọt, khối đá, thác nước đã biến mất. Nhưng kìa... một vật gì vật vờ trên mặt nước phía dưới kia...!
Thì ra, đặt xong bộc phá, Phan Tư dồn hết sức bình sinh vào đôi chân đạp mạnh vào khối đá, lao mình như tên bắn lên mặt nước, sóng nước đẩy ra xa. Anh chỉ bị sức ép, được vớt lên ngay, cứu chữa kịp thời...
Anh hùng Phan Tư sinh năm 1931, tuổi thượng thọ, vẫn hăng hái tham gia công việc hữu ích ở địa phương. Được hỏi về cuộc sống hôm nay nơi quê ông, ông bảo đã là cuộc sống thì ở đâu, lúc nào chẳng nảy sinh cái khó khăn, phức tạp. Nhưng thấm tháp gì so với ngàn vạn nỗi cơ cực thời trước của ông cha. Ai từng qua thời đó ít nhiều mới thấy giá trị có được hôm nay. Giá trị đó phải đánh đổi bằng máu xương thì là lính Cụ Hồ - phải dạy bảo con cháu cùng bảo vệ chứ!
Trịnh Tố Long