Ðánh du kích 1946 - 1954 (II)

24-12-2011 17:23 | Văn hóa – Giải trí
google news

Trong những năm 1952-1953, để chống lại du kích của ta, địch đã tung ra hàng chục binh đoàn cơ động (G.M.). Trong vùng chiếm đóng, địch đã huy động đến trên 20 tiểu đoàn có hải quân và không quân yểm hộ để thực hiện những chiến dịch lớn mà không dẹp nổi du kích.

Trong những năm 1952-1953, để chống lại du kích của ta, địch đã tung ra hàng chục binh đoàn cơ động (G.M.). Trong vùng chiếm đóng, địch đã huy động đến trên 20 tiểu đoàn có hải quân và không quân yểm hộ để thực hiện những chiến dịch lớn mà không dẹp nổi du kích. Trong chiến dịch Lạc Đà, địch càn quét 500 làng thì bị 400 làng đánh trả quyết liệt (Hưng Yên và Hải Dương).Trong Chiến dịch Mercure ở phía nam Bắc Ninh, địch tràn qua 200 làng đều bị thất bại. Trong 8 tháng ở Nam Định, quân địch và du kích quần nhau không ngày nghỉ. Mẹo du kích là chôn bàn chông trong hầm phủ đất và cỏ ở khắp mọi nơi, trong nhà, ngoài chợ, trên đường…khiến địch rất khiếp sợ. Mũi chông có ngạnh như lưỡi câu, dẫm phải chỉ có cách khiêng cả bàn chông và thương binh về bệnh xá, không rút ra được.
 
Một tên bị chông, phải hai người dìu về, vậy là đã loại 3 tên khỏi vòng chiến. Càn quét 2 tháng ở tả ngạn sông Hồng, một đơn vị địch bị 1.420 tên sập hầm chông. Ở Quy Nhơn, một hệ thống hầm chông trải ra 6km2 quanh một đồn Pháp đã loại khỏi vòng chiến 800 tên. Mùa xuân năm 1954, phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ, du kích đã có những cống hiến vô cùng quan trọng. Vùng tả ngạn sông Hồng phá hủy 88 đồn địch. Xã Tây An ở Hải Dương kiên trì bao vây đồn Pháp, Pháp cho 16 máy bay đến ném bom, giải tỏa vẫn không phá được thế bị bao vây. Du kích Quần Phương ở Nam Định bao vây địch trong 4 tháng ở thị trấn Đông Biên do một trung đoàn ngụy đóng giữ. Chỉ hai đêm, du kích Kiến An và Bắc Ninh phá hủy 78 máy bay địch ở sân bay Cát Bi và Gia Lâm. Trên đường số 5, xe lửa và xe thiết giáp hàng ngày bị đánh mìn. Các đoàn tàu địch trên sông luôn bị đánh chặn.
 Trận chiến ác liệt tại Thành cổ Quảng Trị năm197. Ảnh: TL

Địch bị khốn khổ ở Điện Biên Phủ và đồng bằng Bắc Bộ, đó là thời cơ để du kích Nam Bộ tiêu diệt gần 6.000 địch từ cuối năm 1953 đến tháng 3/1954.

Tổng kết Chiến dịch Đông Xuân 1953-1954, du kích đã tiêu diệt 61.855 tên địch. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, du kích đánh 57.198 trận, tiêu diệt và bắt sống 294.334 địch, thu 48.000 vũ khí (riêng súng đại bác: thu được 40, phá hủy 182), phá hủy 224 chiến thuyền, 273 xe tăng.

Vừa đánh giặc, du kích vừa bảo vệ chính quyền vừa làm ruộng.

Trong những “vùng trắng” địch cấm dân ở, bỏ hoang, du kích vẫn đấu tranh giành từng mảnh đất để canh tác. Du kích bảo vệ mùa màng, cất giấu thóc lúa. Trâu bò quen những tiếng động thời chiến đến nỗi: khi có báo động địch càn quét là chúng tự động đi tới nơi ẩn náu. Âm mưu phá hoại kinh tế vùng kháng chiến của địch đã thất bại. Du kích vẫn giữ được phần lớn mùa vụ để dân và bộ đội đủ ăn mà đánh giặc.

Chị Nguyễn Thị Chiên, một phụ nữ nông dân bình thường, có thể coi là tiêu biểu cho người du kích Việt. Một nhà báo Việt kiều đã viết về chị như sau: Chị Chiên là con nhà bần nông, lớn lên trong cơ cực, không được học hành gì. Cách mạng tháng Tám, chị mới 15 tuổi. Chị vừa làm ruộng lại vừa được học lớp bình dân học vụ. Chiến tranh bùng nổ, chị gia nhập đội du kích. Năm 1950, địch chiếm đóng quê chị. Một đêm, chị nhận nhiệm vụ dẫn bí thư địa phương đến nơi họp. Gặp một đội lính ngụy đi tuần. Chị la lên, chạy về một hướng, dẫn địch theo mình để cán bộ kịp mang tài liệu chạy hướng khác. Bắt được chị, địch tra tấn chị ba tháng liền. Ba lần chúng dọa bắn, chị vẫn không khai. Sau bọn địch cho là chị quê mùa, ngu dốt, không biết gì thật nên đã thả chị ra.

Chị lại tiếp tục hoạt động. Địch ra sức càn quét, bắt thanh niên đi lính cho chúng. Chị lập lại Hội phụ nữ cứu quốc, trong hai tháng, tổ chức được 2.000 chị em, huấn luyện 375 chị trong làng đào hầm bí mật, giúp thanh niên trốn lính. Chị tổ chức đội nữ du kích, vừa cày cấy vừa đánh giặc, bà con vẫn đủ lương thực và còn tiếp tế cho bộ đội.          

Năm 1952, chị tham gia cùng bộ đội đánh một đồn của bọn ác ôn. Chị bò vào cắt ba hàng rào thép gai, mở đường cho bộ đội băng lên. Có thương vong, chị bò vào cõng thương binh ra, hết lần này đến lần khác. Rồi lại cầm súng chiến đấu cho đến khi hạ được đồn. Trong số lính địch bị bắt, có tên đã tra tấn người anh của chị đến chết. Đây là dịp trả thù chăng? Nhưng nhớ lời dạy của Hồ Chủ tịch về chính sách với tù binh, chị ghìm được lòng căm thù để giáo dục nó theo về với chính nghĩa. Chị được tuyên dương Anh hùng, được Hồ Chủ tịch tặng khẩu súng lục của Người.

Tướng De Castries thua trận Điện Biên Phủ đã đánh giá: “Bộ đội Việt tinh thần chiến đấu cao vì chiến đấu có lý tưởng, cùng với sự luyện tập hoàn hảo, kiên trì học hỏi các hình thái chiến tranh hiện đại và áp dụng vào chiến trường Đông Dương. Sự  dũng cảm khiến bộ binh Việt Nam vào loại giỏi nhất thế giới. Bộ chỉ huy linh hoạt thay đổi các phương pháp tấn công chứng tỏ trình độ hiểu biết cao về chiến thuật và sự tôn trọng triệt để những nguyên tắc lớn của nghệ thuật chiến tranh. Các vấn đề về hậu cần được giải quyết thật tuyệt vời!...” (lời tuyên bố khi trao trả tù binh - tháng 8/1954).

Tướng De Castries còn chưa đánh giá hết sự đóng góp của các đơn vị du kích vào Chiến dịch Điện Biên Phủ.

  Hữu Ngọc

Nói lại cho rõ

Trên báo SK&ĐS số 202 ra ngày Chủ nhật 18/12/2011, chú thích trong bài Đánh du kích 1946 - 1954 (I) có ghi: Tác giả Hữu Ngọc nguyên Trại trưởng tù hàng binh Âu Phi, nay xin đọc là: Tác giả Hữu Ngọc nguyên là Trưởng ban Giáo dục tù hàng binh Âu Phi.

Tác giả thành thật xin lỗi độc giả!

Hữu Ngọc
Ý kiến của bạn