Làng Giàng từ thời thuộc Hán được đặt tên là Tư Phố, trở thành thủ phủ của trấn Thanh Hóa cho tới thời nhà Nguyễn. Thế mới có câu: “Tư Phố (làng Giàng) trên chợ, dưới sông. Vui người vui cảnh đến không muốn về”.
Làng cổ văn hóa Đông Sơn
Người ta nói đất Kẻ Giàng hay xã Thiệu Dương là vùng đất cổ hiếm thấy từ xưa đến nay. Bởi lẽ các nhà khảo cổ phát hiện ra ở đây có nhiều di chỉ đậm dấu ấn văn hóa Đông Sơn từ thời vua Hùng. Diện tích khảo sát các khu vực lịch sử, văn hóa rộng tới hơn 5ha, được đào bới sâu tới 4,2m. Mỗi lớp đất lại phát hiện ra những hiện vật cổ và mộ táng thời Đông Sơn và thời Hán. Đây là khu trú đặc biệt từ thời Bắc thuộc trước và sau Công nguyên. Sau này, trong thời kỳ ngàn năm Bắc Thuộc, trấn thành Tư Phố được coi là một trong những thủ phủ lâu đời của quận Cửu Chân xưa.

Lễ kỷ niệm 1080 năm ngày mất của Anh hùng dân tộc Dương Đình Nghệ.
Trấn thành Tư Phố được hình thành trên địa thế thuận lợi: “Cận thị-cận giang” - nơi hội tụ của hai con sông lớn nhất Thanh Hóa. Bên cạnh đó còn có dãy núi Ngũ Hoa nằm ở phía Đông tạo nên cảnh sắc Tư Phố thêm thơ mộng huyền bí. Khi đoàn chúng tôi vào làng Giàng - trung tâm Tư Phố xưa, được bà con giới thiệu về tên các ngọn núi, thật thú vị làm sao! Nào là núi Voi, núi Ngựa, núi Rùa… tùy hình thù độc đáo của từng ngọn núi trong dãy Ngũ Hoa. Họ còn kể, đến nay, dòng sông Mã, sông Chu vẫn là đường thủy thuận lợi của những con tàu lớn chở hàng từ Thanh Hóa vào Nam, ra Bắc rất tấp nập. Cho dù không còn là Tư Phố xưa, làng Giàng trở thành xã của TP. Thanh Hóa (từ năm 2012) nhưng vùng quê, trên chợ dưới sông này vẫn là cái nôi văn hóa đặc sắc. Đồng thời Kẻ Giàng lại trở thành địa chỉ du lịch kỳ thú với cảnh sắc thiên nhiên mênh mông sông nước, bên dãy núi thơ mộng.
Vẫn còn đó những con phố trên đường làng. Bến sông ngã ba Đầu lúc nào cũng nhộn nhịp những chuyến hàng khắp nơi tụ về. Họ dừng cánh buồm nơi đây như sự nhớ lại trong con tim một thuở lưu luyến, cùng với những con nước lớn dâng trào. Bởi mỗi khi mùa lũ về, sông Mã lồng lên dữ tợn, khi ấy, đất Kẻ Giàng là bến đỗ bình an, ấm áp tình người. Kẻ Giàng xưa còn có nghề đan lát, nào cót tre cót nứa, cót giang… cùng với những sản phẩm như sọt, nơm, liếp, giỏ, đĩa, rổ...Dân khắp nơi tụ về làm ăn sinh sống đến tận ngày nay. Kẻ Giàng vẫn luôn tự hào rằng: “Mùa về lại nhớ cót Giàng. Cách mấy ngày đàng cũng đến tìm mua”.
Cùng với niềm tự hào, đất Kẻ Giàng không những là một trong mười cảnh đẹp nhất của xứ Thanh mà nơi đây còn giàu truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Đặc biệt, đất Kẻ Giàng còn là nơi hội tụ của hàng ngàn nghĩa hiệp khắp nơi tìm về quần tụ cùng nhau khởi nghĩa chống quân Nam Hán vào những thập kỷ cuối cùng ngàn năm Bắc thuộc. Làng hiện có đền thờ anh hùng dân tộc Dương Đình Nghệ. Chúng tôi được dẫn đến khu di tích đền thờ và ngôi chùa do chính dòng họ Dương dựng lên từ ngàn năm trước. Đó là một vùng đất rộng lớn. Dân làng kể, nơi đây, các nghĩa sĩ ra sức rèn luyện chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa vào năm 931 chống quân Nam Hán. Đây cũng là giai đoạn lịch sử hùng tráng nhất của đất làng Giàng, gắn liền với cái tên Dương Đình Nghệ, kèm theo bao câu chuyện kỳ lạ nhất.

Nghề mây tre đan ở làng Giàng.
Người có 3.000 con nuôi
Dương Đình Nghệ là người làng Giàng nhưng sớm đã là tướng giỏi của anh hùng khởi nghĩa Khúc Hạo. Ông theo Khúc Hạo chiến đấu chống quân Nam Hán vào những năm đầu thập kỷ 900. Thời kỳ này, nước ta vẫn còn thuộc sự cai trị của giặc phương Bắc (gồm nhà Nam Hán và nhà Hậu Lương). Khúc Thừa Dụ - người ở Cúc Bồ (Ninh Thanh - Hải Dương), khởi nghĩa từ thời nhà Đường, đánh đuổi giặc ra khỏi bờ cõi nước Nam và tự xưng là Tiết độ sứ, đứng đầu nước Việt (905-907). Sau đó, ông trao quyền bính cho con trai là Khúc Hạo (907-917). Vào thời gian này, nhà Đường mất, nhà Hậu Lương thay thế, tiếp tục công nhận Khúc Hạo là Tiết độ sứ của đất An Nam. Trong vòng 10 năm, Dương Đình Nghệ là một tướng tài, cộng sự đắc lực với Khúc Hạo cai quản đất nước. Khi Tiết độ sứ Khúc Hạo mất (917), ông trở thành trụ cột của Khúc Thừa Mỹ - con trai nối ngôi của Khúc Hạo.
Năm 919, Khúc Thừa Mỹ cho người đi sứ sang yết kiến vua nhà Lương và xin được phong chức Tiết độ sứ đất Giao Châu, tỏ thái độ không phục nhà Nam Hán. Thấy thế, vua Nam Hán tức giận đem quân đi đánh, lấy cớ Khúc Hạo chiếm đất Giao Châu (năm 923). Chúng bắt Khúc Thừa Mỹ về cầm tù, rồi phong chức cho Dương Đình Nghệ, kèm theo đó, đưa Lý Tiến sang làm Thứ sử Giao Châu, cùng với Lý Khắc Chính sang giữ thành Tống Bình (Hà Nội). Nhưng chúng lại cử Dương Đình Nghệ về trấn ở Cửu Chân (Thanh Hóa). Nhân cơ hội này, Dương Đình Nghệ âm thầm tổ chức lực lượng chiến binh ngay tại làng Giàng. Hay tin, hàng ngàn người khắp nơi tìm về đầu quân dưới sự chỉ huy của ông. Ông nhận họ là con nuôi và ngày đêm bí mật luyện võ nghệ, sử dụng binh khí thành thục. Ngay thời gian đầu, Dương Đình Nghệ có tới 3.000 con nuôi với tình nghĩa cha con thực sự. Vì thế, các nghĩa binh ra sức luyện rèn. Trong số đó, nổi lên có những võ tướng xuất sắc như Ngô Quyền, Kiều Công Tiễn, Đinh Công Trứ, Phạm Bạch Hổ… Người theo đến mỗi ngày một đông hơn. Từ đó, làng Giàng trở thành căn cứ địa kháng chiến chuẩn bị lực lượng tinh nhuệ trong suốt 9 năm (từ 923 - 931).
Thời cơ chín muồi. Cuối năm 931, Dương Đình Nghệ khởi binh đánh thẳng vào thành Đại La, giết chết Lý Khắc Chính. Thứ sử Lý Tiến phá thành tháo chạy. Quân Nam Hán cứu viện đến cũng bị các tướng lĩnh đánh chặn từ xa. Chúng thua tan tác bỏ chạy về nước. Nền tự chủ nước nhà được khẳng định từ đó. Dương Đình Nghệ tự xưng là Tiết độ sứ, cai quản đất nước từ đó. Ngô Quyền (con rể ông) được cử trông nom Ái Châu; Đinh Công Trứ (cha của Đinh Bộ Lĩnh) làm thứ sử Châu Hoan; riêng Kiều Công Tiễn theo ông giữ thành Tống Bình. Dương Đình Nghệ trị vì đất nước với nhiều chính sách cải cách tiến bộ về mô hình tổ chức nhà nước. Ông luôn luôn theo tôn chỉ mục đích vì dân: “Chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân được an vui”.
Nhưng không ngờ sau 6 năm cầm quyền thịnh trị, Dương Đình Nghệ bị chính cộng sự của mình là Kiều Công Tiễn sát hại. Hắn tự xưng là Tiết độ sứ điều hành đất nước. Hay tin dữ, Ngô Quyền cùng tướng sĩ quay về đánh Kiều Công Tiễn. Hắn cho người sang cầu cứu nhà Hán, nhưng không kịp. Kiều Công Tiễn bị giết ngay tại trận. Ngô Quyền ngay sau đó tiến lên phía Bắc chặn đánh quân Nam Hán. Cuộc chiến xảy ra ác liệt trên sông Bạch Đằng vào tháng 11/938. Ngô Quyền đã bài binh bố trận, dùng cọc bịt sắt đóng dưới lòng sông Bạch Đằng, dụ quân Hán sa bẫy. Đợi lúc thủy triều xuống, quân ta tổng tiến công với thế ba gọng kìm. Giặc tháo chạy sa vào chiến địa cọc sắt. Đoàn thuyền chiến của chúng bị cọc nhọn phá vỡ tan tác. Hàng ngàn tên giặc bị tên bắn và bị chém chết như ngả dạ. Máu chảy loang khắp sông. Bại tướng Hoàng Thao bị chém chết ngay trên thuyền chỉ huy. Đó là trận đánh kết thúc thời kỳ ngàn năm Bắc thuộc của dân tộc ta. Thời kỳ độc lập tự chủ đất nước bắt đầu từ đây.
Khúc tráng ca sông Mã
Chiến công của Ngô Quyền chính là khởi nguồn từ cuộc kháng chiến và tư tưởng sâu sắc của Dương Đình Nghệ - người con của làng Giàng. Đền thờ ông hiện được xây chính trên ngôi mộ ông tại làng quê. Đời đời ghi nhận ông từ hai câu đối được khắc trên bia đá: “Nuôi ba ngàn nghĩa sĩ để phục thù bừng bừng khí dũng. Cầm đầu tám vạn quân xuất trận lẫm lẫm uy danh”. Cho dù bi kịch bị sát hại, Dương Đình Nghệ càng được mọi người thương nhớ bởi số mệnh của niềm tin. Và đó chính là sự bất tử.
Sau này, con cháu ông tiếp tục đóng góp cho đất nước như Dương Tam Kha (con trai); Ngô Quyền (con rể, lấy Dương Như Ngọc); Đinh Bộ Lĩnh (lấy Dương Vân Nga, cháu gái ông). Kể cả Lê Hoàn cũng thành hôn với Dương Vân Nga sau khi Đinh Bộ Lĩnh mất. Linh hồn Dương Đình Nghệ luôn nhập thần vào từng bước đi vinh quang của con cháu trong ngàn năm dựng nước. Làng Giàng nơi đầu sóng ngọn gió bên sông Mã, sông Chu luôn hòa chung bản tráng ca đất nước, rạo rực ngân vang với thời gian.