Đau dạ dày là một trong những triệu chứng phổ biến mà nhiều người gặp phải. Theo y học cổ truyền, đau vùng thượng vị, đầy bụng, ợ hơi, ợ chua thường thuộc phạm vi chứng "vị quản thống". Bác sĩ nội trú Nguyễn Thành Vương, Khoa Y học cổ truyền, Trường Đại học Y Hà Nội cho biết, các vị thuốc có tác dụng sơ can lý khí, hòa vị, ôn trung, kiện tỳ hoặc thanh nhiệt, giúp cải thiện triệu chứng của bệnh.
Theo lý luận y học cổ truyền, chứng bệnh này có thể liên quan đến nhiều nguyên nhân như ăn uống không điều độ, sử dụng nhiều rượu bia, đồ cay nóng, lạnh; tình chí không thư thái, căng thẳng kéo dài; hoặc do tỳ vị hư hàn, khí trệ, huyết ứ, uất nhiệt. Vì vậy, không phải người đau dạ dày nào cũng sử dụng cùng một vị thuốc hoặc một bài thuốc.

Bạch thược trong phương thuốc điều trị đau dạ dày. Ảnh: AI.
1. Cách lựa chọn vị thuốc chữa đau dạ dày
1.1. Bạch thược: Bạch thược là một vị thuốc thường xuất hiện trong các phương thuốc điều trị chứng đau dạ dày, đặc biệt ở những trường hợp có liên quan đến can khí không điều đạt, khí trệ gây đau.
Theo y học cổ truyền, bạch thược có tác dụng dưỡng huyết, liễm âm (giữ gìn phần âm và tân dịch của cơ thể), nhu can (điều hòa chức năng của can), chỉ thống (giảm đau), thường được phối hợp với các vị thuốc khác để làm dịu tình trạng đau do can vị bất hòa. Trong một số bài thuốc điều trị đau dạ dày bạch thược được phối hợp với sài hồ, chỉ xác nhằm sơ can, lý khí, điều hòa tỳ vị.
1.2. Hương phụ: Hương phụ có tính bình, vị cay, hơi đắng, có tác dụng sơ can giải uất, lý khí, điều kinh (điều hòa kinh nguyệt), chỉ thống. Với những trường hợp đau dạ dày liên quan đến tình trạng khí trệ, thường có biểu hiện đau tức, đầy bụng, ợ hơi, triệu chứng tăng khi căng thẳng, hương phụ có thể được sử dụng trong bài thuốc phối hợp.
1.3. Trần bì: Trần bì là vỏ quýt chín đã phơi hoặc sấy khô, có tác dụng lý khí, điều trung (giúp chức năng của tỳ và vị được cân bằng), táo thấp (làm khô và loại bỏ "thấp tà" ra khỏi cơ thể), hóa đàm (tống xuất "đàm" - đờm/chất dịch nhầy bất thường - ra khỏi cơ thể). Trần bì thường được sử dụng khi người bệnh có các biểu hiện như đầy bụng, ăn uống khó tiêu, buồn nôn, ợ hơi do khí trệ hoặc thấp trở (cản trở sự vận hành của khí và hoạt động của tỳ vị ở trung tiêu). Trong một số phương thuốc điều trị chứng tỳ vị hư hàn hoặc thực tích, trần bì được phối hợp với các vị thuốc khác giúp điều hòa chức năng tỳ vị và giảm cảm giác đầy trướng.
1.4. Bạch truật: Bạch truật là vị thuốc thường được sử dụng trong các bài thuốc kiện tỳ, ích khí, táo thấp. Khi tỳ vị hư yếu, người bệnh có thể xuất hiện các biểu hiện như ăn uống kém, đầy bụng, mệt mỏi, phân lỏng và đau bụng âm ỉ. Bạch truật có thể được phối hợp trong các bài thuốc nhằm kiện vận tỳ vị. Vị thuốc này cũng thường xuất hiện trong các phương thuốc điều trị chứng can khí phạm vị, cùng với bạch thược, phục linh, sài hồ.
1.5. Can khương: Can khương là gừng đã được chế biến, phơi hoặc sấy khô, có tác dụng ôn trung tán hàn (làm ấm trung tiêu và xua tan hàn tà), hồi dương thông mạch (khôi phục dương khí và giúp khí huyết lưu thông qua kinh mạch). Trong chứng tỳ vị hư hàn, người bệnh thường đau vùng thượng vị âm ỉ, thích chườm ấm hoặc uống nước ấm, tay chân lạnh, ăn đồ lạnh dễ làm triệu chứng tăng. Các vị thuốc có tác dụng ôn trung như can khương có thể được sử dụng trong bài thuốc theo chỉ định của thầy thuốc.
1.6. Hoàng liên: Hoàng liên là vị thuốc có vị đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt táo thấp, thanh tâm hỏa, giải độc. Trong một số trường hợp đau dạ dày thuộc thể uất nhiệt, người bệnh có thể có cảm giác nóng rát vùng thượng vị, ợ chua, miệng đắng, dễ khát hoặc các biểu hiện nhiệt khác. Hoàng liên có thể được phối hợp với các vị thuốc khác để thanh nhiệt, hòa vị. Tuy nhiên, do hoàng liên có tính hàn và vị đắng, không nên tự ý sử dụng, đặc biệt ở người tỳ vị hư hàn, cơ địa dễ lạnh bụng hoặc tiêu chảy.
1.7. Ô tặc cốt: Ô tặc cốt là mai của mực nang, được sử dụng trong y học cổ truyền. Vị thuốc này có tác dụng chế toan (làm giảm hoặc ức chế tình trạng "toan" - vị toan), giúp cải thiện các triệu chứng như ợ chua, cảm giác chua trong miệng, nóng rát vùng thượng vị, chỉ huyết (cầm máu), thu liễm sang (hỗ trợ liền các tổn thương, vết loét trên da hoặc niêm mạc).
Ô tặc cốt có thể được phối hợp trong một số bài thuốc dành cho người có biểu hiện vị toan, ợ chua. Tuy nhiên, việc sử dụng cần dựa trên chẩn đoán và phối ngũ của thầy thuốc, không nên tự mua vị thuốc về dùng kéo dài.
2. Lưu ý khi trị đau dạ dày
Bác sĩ nội trú Nguyễn Thành Vương cho biết, điểm quan trọng trong điều trị đau dạ dày bằng y học cổ truyền là biện chứng luận trị; cùng là đau vùng thượng vị nhưng nguyên nhân và thể bệnh có thể khác nhau, cụ thể:
- Can khí phạm vị: Đau tức vùng thượng vị, có thể lan sang hai bên sườn, thường kèm ợ hơi, ợ chua và liên quan đến stress. Phép trị thường hướng đến sơ can, lý khí, hòa vị.
- Tỳ vị hư hàn: Đau âm ỉ, thích chườm ấm, ăn uống đồ lạnh có thể làm đau tăng. Phép trị thường là ôn trung, kiện tỳ.
- Vị uất nhiệt: Có thể biểu hiện đau nóng rát, ợ chua, miệng đắng, khát. Phép trị thường hướng đến thanh nhiệt, hòa vị.
- Huyết ứ: Đau có tính chất cố định, đau như kim châm hoặc đau dữ dội từng cơn. Phép trị thường hướng đến hoạt huyết, hóa ứ, chỉ thống.
Đặc biệt, đau vùng thượng vị không phải lúc nào cũng xuất phát từ bệnh lý dạ dày. Loét dạ dày - tá tràng, nhiễm H. pylori, bệnh trào ngược dạ dày - thực quản, bệnh lý đường mật, tụy và một số bệnh tim mạch có thể gây đau hoặc khó chịu vùng thượng vị. Vì vậy, người có triệu chứng kéo dài, tái diễn hoặc bất thường cần được thăm khám để xác định nguyên nhân trước khi tự điều trị.
Xem thêm bài đang được quan tâm:

