DÒNG SỰ KIỆN

Đường dây nóng:

1900 90 95 duongdaynongyte@gmail.com
0901727659 bandientuskds@gmail.com
6 điều y học hiện đại bị cản trở bởi phân biệt giới tính
DS. Chu Trang Nhung - 08:34 10/06/2016 GMT+7
Suckhoedoisong.vn - Ngoại trừ bạo lực, hay sinh đẻ, đàn ông và phụ nữ đều gặp phải những vấn đề sức khỏe như nhau, nhưng y học hiện đại lại vấp phải những rào cản vô hình, đó là tình trạng phân biệt giới tính.

1. Bệnh trầm cảm đàn ông ít được quan tâm còn ở phụ nữ lại dùng quá nhiều thuốc

Thực tế, có hai cách phân loại trầm cảm “nam” và “nữ”, tuy vậy vẫn có ngộ nhận cho rằng, biến thể trầm cảm ở nam giới là không có thật, còn ở phụ nữ lại phổ biến với các triệu chứng rõ ràng như: đi làm muộn, luôn cảm thấy tức giận, và có tính cách hoặc hành vi thiếu thận trọng. Y học không coi đây là triệu chứng của sức khỏe tâm thần mà chỉ có trong phim viễn tưởng. Mặc dù trầm cảm ở nam giới ít phổ biến và có các triệu chứng ít được coi là nghiêm trọng, tỉ lệ tự tử ở đàn ông lại cao hơn phụ nữ tới 4 lần.

Đàn ông bị trầm cảm ít được quan tâm

Qua khám và điều trị cho thấy, phụ nữ có nhiều khả năng được chẩn đoán trầm cảm, nhưng một khi họ mắc bệnh thì chính họ lại là người chăm dùng thuốc nhất. Bác sĩ có chiều hướng kê đơn dùng chất ma túy được phép và thuốc chống lo âu cho phụ nữ bị trầm cảm, đây chính là một trong những lý do làm tăng tỉ lệ tử vong do quá liều ở phụ nữ trầm cảm lên tới 400%, kể từ năm 1999.

2. Nghiên cứu y học thường tập trung ở đối tượng đàn ông

Đàn ông và phụ nữ có những phản ứng khác nhau với thuốc chữa bệnh, ví dụ, cơ thể phụ nữ lại có xu hướng phản ứng với đau tốt hơn so với nam giới, do mức độ biến động của estrogen. Tuy nhiên, phụ nữ lại có nhiều rủi ro nghiện thuốc chữa bệnh, và cần nhiều thời gian hơn để rã thuốc, kể cả thuốc ngủ. Đây là những thông tin quan trọng y học ghi nhận, nhưng trong thực tế các nghiên cứu liên quan đến y dược lại tập trung nhiều vào đối tượng nam giới.

Sau khi tham khảo kết quả 2.300 nghiên cứu y học đã được công bố, các chuyên gia ở Đại học Northwestern, Mỹ phát hiện thấy, 80% các nghiên cứu, đối tượng thử nghiệm là nam giới. Cho đến những năm 90 ở thế kỷ trước, phụ nữ đã bị cấm hoàn toàn trong các thử nghiệm lâm sàng, điều này mới chỉ được quan tâm sau khi y học hiện đại phát hiện thấy cơ chế sinh lý giữa nam và nữ có nhiều khác biệt. Ví dụ, bộ phận sinh dục, cơ bắp, hay vòng ngực, hoặc tần suất, tốc độ giữa các cơn đau tim ở đàn ông và phụ nữ cũng khác nhau đáng kể.

3. Các cơn đau ở phụ nữ bắt nguồn từ... não

Cách đây chừng 4.000 năm, việc chẩn đoán bệnh cho phụ nữ được xem là dễ dàng trên thế giới. Từ trầm cảm, động kinh cho đến vết thương... đều được xếp vào nhóm “hysteria” (cuồng loạn), một dạng rối loạn tâm thần mà cơ bản, tất cả các vấn đề liên quan đến sức khỏe của phụ nữ đều là sản phẩm của trí tưởng tượng, phát sinh từ não. Ngày nay, y học hiện đại đã thay đổi nhiều, nguồi ta sử dụng thuật ngữ “hysteria” để giải thích cách chữa bệnh cho phụ nữ mà người xưa mong ước. Sự khác biệt duy nhất ở chỗ, y học hiện đại đã thay thuật ngữ “hysteria” bằng “căng thẳng” (stress) hoặc psychosomatic symptoms (triệu chứng tâm thần) để đề cập không giới hạn một số chứng bệnh như: hội chứng đa nang buồng trứng (rối loạn nội tiết tố nghiêm trọng), Lupus bệnh tự miễn), và Fibromyalgia (dạng thấp khớp mà hầu như chỉ ảnh hưởng đến phụ nữ có nguồn gốc từ não). Người ta ước tính, tại Mỹ có khoảng hàng chục triệu phụ nữ đang phải đối mặt với cơn đau không cần thiết kiểu này, kèm các triệu chứng phóng đại.

Kết quả, những người đau hợp pháp thường có xu hướng giấu bệnh, sợ bị chê là giả vờ, kể cả cơn đau tim. Theo một nghiên cứu, có tới 75% số bác sĩ không chẩn đoán đúng bệnh cho phụ nữ  khi mắc bệnh tim mạch, sự căng thẳng lại được đổ lỗi cho tất cả các triệu chứng mà họ đang mắc phải, nên hiệu quả điều trị còn thấp, thậm chí còn làm cho  bệnh tật thêm trầm trọng.

4. Đàn ông có cũng có thể mắc HPV, nhưng lại không được chủng ngừa

HPV (u nhú ở người) là một trong những bệnh lây lan qua đường tình dục (STD) phổ biến ở phụ nữ, hàng triệu người bị nhiễm hàng năm. Bệnh phổ biến đến mức nhiều người coi đây là “một phần của cuộc sống phụ nữ”, giống như chu kỳ kinh nguyệt. Điều tốt lành, rất ít chủng virút nguy hiểm nhưng tin xấu, các chủng virút hiếm hoi này lại rất nguy hiểm, có thể gây ra bệnh ung thư như: ung thư cổ tử cung, âm hộ, âm đạo, dương vật... ở cả hai giới.

Ví dụ tại Mỹ có gần 10.000 đàn ông mắc bệnh ung thư vòm họng, hậu môn liên quan đến HPV, nhưng theo Trung tâm Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ (CDC), tỉ lệ đàn ông được tiêm chủng HPV lại rất thấp, mặc dù chiến dịch tiếp thị khá rầm rộ. Hiện nay, mới chỉ có 4/10 nam giới được chủng ngừa HPV, nhiều nước từ chối tài trợ cho chiến dịch tiêm phòng vắcxin HPV. Y học dự báo ung thư cổ họng liên quan đến HPV sẽ “xô đổ” ung thư cổ tử cung trở thành dạng phổ biến nhất của nhóm ung thư HPV vào năm 2020, vì vậy sớm muộn, một nửa dân số thế giới là đàn ông phải tiêm chủng loại vắcxin quan trọng này.

5. Phụ nữ hay nam giới hiến tặng nhiều nội tạng?

Trong những năm gần đây, y học cho biết phụ nữ hiến tặng tạng sống trội hơn nam giới, điều này làm cho người ta suy đoán, có thể là do phụ nữ có lòng vị tha cao hơn nam giới. Thật không may, khi kiểm tra kỹ càng hơn, các nhà nghiên cứu mới phát hiện ra rằng điều này chưa thật chính xác, nói cách khác, phụ nữ tình nguyện hiến tặng nội tạng ít hơn so với nam giới.

Theo nghiên cứu của một tổ chức cấy ghép nội tạng Canada, 36% số người vợ đủ điều kiện để hiến tặng nội tạng cho chính người chồng của mình, trong khi đó ở đàn ông tỉ lệ này chỉ có  6,5 %. Điều này chứng tỏ, phụ nữ có tài sản quý giá hơn đàn ông, nhưng khi tuổi cao tỷ lệ này ở phụ nữ giảm tới một nửa. Tuy nhiên, nếu phụ nữ hiến tăng nội tạng, cộng đồng y học sẽ hạnh phúc hơn vì cứu được nhiều người.

6. Bệnh tự kỷ ở các bé gái ít được quan tâm

Tự kỷ là một phổ các rối loạn phát triển thần kinh, ảnh hưởng đến xã giao, lúng túng giao tiếp, xuất hiện những suy nghĩ và cảm xúc, lẫn hành vi mang tính lặp đi lặp lại, phổ biến ở các bé trai. Từ lâu, dư luận thường cho rằng các bé gái mắc chứng tự kỷ có thể kém thông minh và có hội chứng nghiêm trọng hơn bé trai. Các nghiên cứu gần đây cho thấy, tự kỷ ảnh hưởng đến não bộ ở hai giới theo những cách khác nhau. Hóa ra, điều này không hề nhỏ, bởi tất cả các công cụ chẩn đoán lâu đều dùng để phát hiện bệnh tự kỷ bằng cách quan sát ở bé trai (rất thông lệ trong lĩnh vực y tế). Đây chính là lý do tại sao rất nhiều bé gái mắc bệnh tự kỷ đã không được chẩn đoán trong nhiều năm liền.

So sánh giữa bé gái mắc tự kỷ với bé gái khỏe mạnh người ta sẽ hiểu rõ hơn các phiên bản tự kỷ ở nữ giới. Ví dụ, một bé gái mắc chứng tự kỷ có trí thông minh lại có khả năng tương tác xã hội tốt, đơn giản chỉ vì em đã thuộc lòng những điều đúng để nói ra trong các tình huống thực. Do đó, nó đã làm sai lệch hay che đậy bệnh mà chúng  đang mắc phải, nhưng điều này rất ít khi xảy ra ở  bé trai. Chưa hết, một bé gái tự kỷ có thể trải qua một ngày học hành bình thường, chỉ phát bệnh khi ở trong phòng một mình. Ngược lại, ở bé trai mắc chứng tự kỷ rất dễ phát hiện, do đó, nhiều phụ huynh nhầm tưởng con mình không mắc bệnh, nhưng khi biết sự thật thì bệnh tình đã phát triển mạnh.

DS. Chu Trang Nhung

(Theo Cracked- 5/2016)

Tin liên quan
Tin chân bài
Bình luận
TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
Xem thêm