4 loại đậu, hạt quen thuộc được dùng để bổ thận trong Đông y

Vị thuốc quanh ta
SKĐS - Theo YHCT, một số loại đậu, hạt quen thuộc được dùng để bổ thận, đồng thời giàu protein, chất béo tốt, vitamin và khoáng chất, dễ bổ sung vào chế độ ăn.

Trong y học cổ truyền, "bổ thận" là một khái niệm rộng, gắn với chức năng của tạng Thận và các biểu hiện sức khỏe theo từng thể bệnh, không đồng nghĩa với việc chữa các bệnh lý thận theo y học hiện đại.

Một số loại đậu và hạt như đậu đen, mè đen, đậu phộng… được sử dụng trong thực dưỡng và y học cổ truyền với những công năng nhất định. Dưới góc nhìn dinh dưỡng hiện đại, chúng cũng cung cấp protein thực vật, chất xơ, chất béo không bão hòa, vitamin, khoáng chất và nhiều hợp chất thực vật có lợi. Tuy nhiên, mỗi loại có đặc điểm dinh dưỡng và lưu ý sử dụng riêng.

4 loại đậu, hạt quen thuộc được dùng để bổ thận trong y học cổ truyền - Ảnh 1.

ThS. BS. LY. Nguyễn Đình Thục, Phó Viện trưởng Viện Đông y Việt Nam.

1. Đậu đen - bổ thận âm

Đậu đen có tên gọi khác là hắc đậu, ô đậu, hương xị …Tên khoa học là phaseolus vulgaris. Theo y học cổ truyền, đậu đen có vị ngọt, tính bình; quy vào kinh tỳ, phế và thận; thường được dùng với công năng bổ thận, lợi thủy, bổ phế, thanh nhiệt giải độc, ổn định đường huyết, giảm cholesterol, tốt cho tim mạch, cải thiện tiêu hóa, giảm táo bón.

ThS. BS. LY. Nguyễn Đình Thục, Phó Viện trưởng Viện Đông y Việt Nam cho biết, đậu đen còn được chế thành vị thuốc đạm đậu xị, được dùng trong nhiều bài thuốc, tác dụng giải biểu, phát tán phong nhiệt, trừ phiền, an thần, hòa trung, hỗ trợ tiêu hóa. Đậu đen vừa là vị thuốc cũng là thực phẩm quen thuộc, có thể chế biến thành nhiều món trong bữa ăn hằng ngày.

Không chỉ được sử dụng theo kinh nghiệm y học cổ truyền, đậu đen còn có giá trị dinh dưỡng tốt. Loại đậu này cung cấp protein thực vật, chất xơ, vitamin nhóm B, sắt, canxi, magie, folate, flavonoid cùng nhiều hợp chất thực vật. Việc bổ sung đậu đen và các loại đậu khác vào khẩu phần giúp đa dạng nguồn protein, đồng thời tăng lượng chất xơ cho cơ thể.

Trong chế độ ăn hằng ngày, đậu đen có thể dùng để nấu chè đậu đen ít đường, nấu cháo đậu đen, xôi đậu đen, súp hoặc kết hợp với các loại ngũ cốc và thực phẩm khác bồi bổ sức khỏe cho con người.

2. Hạt bạch quả - Bổ thận ích tinh

Trong y học cổ truyền, hạt bạch quả còn có tên gọi khác như: Ngân hạnh, công tôn thụ hoặc áp cước tử. Tên khoa học là Ginkgo biloba L., thuộc họ Bạch quả (Ginkgoaceae).

Theo ThS. BS. LY. Nguyễn Đình Thục, thành phần hóa học chính của bạch quả gồm: Flavonoid, terpenoid tginkgolide, bilobalide). Vị thuốc có tính ấm, vị ngọt, hơi đắng, đi vào 3 kinh Tâm (tim), phế (phổi) và thận (theo bản thảo tái tân), giúp phế trị ho, ích khí, tiêu đờm, làm ấm phổi, bình suyễn (chữa hen suyễn, viêm phế quản co thắt); giúp tâm định tâm thần, điều hòa khí huyết; giúp thận giảm chứng tiểu tiện nhiều lần, tiểu són, tiểu đêm, cố sáp tinh, di tinh, mộng tinh; trị khí hư, bạch đới ở phụ nữ và hỗ trợ bồi bổ cơ thể.

Hạt còn có các thành phần khác: Tinh bột, chất béo, protein, đường. Hạt cũng được sử dụng trong một số món ăn truyền thống ở Đông Á, ở Việt Nam hay dùng hạt bạch quả sao qua, đập dập hoặc tán thô (hoặc tán bột) để ướp thịt, ướp đồ nướng, hầm xương, làm nước phở, giúp món ăn thơm ngon, không bị ngấy.

Tuy nhiên, khác với nhiều thực phẩm thường dùng, hạt bạch quả cần được lưu ý về an toàn khi sử dụng. Hạt có chứa 4'-O-methylpyridoxine (ginkgotoxin), một chất có thể ảnh hưởng đến hệ thần kinh và gây ngộ độc khi ăn với lượng lớn. Các biểu hiện có thể gồm buồn nôn, nôn và co giật; trẻ em đặc biệt cần tránh ăn nhiều hạt bạch quả. Người âm hư hỏa vượng hoặc người có biểu hiện trúng phong, táo bón do nhiệt không nên dùng. Vì vậy, nếu sử dụng làm thực phẩm, cần chế biến đúng cách và dùng với lượng phù hợp.

4 loại đậu, hạt quen thuộc được dùng để bổ thận trong y học cổ truyền - Ảnh 2.

Các loại đậu và hạt như đậu đen, mè đen, đậu phộng… vừa được sử dụng trong y học cổ truyền với công năng bổ thận, vừa cung cấp nhiều dưỡng chất cho cơ thể.

3. Mè đen - Bổ Can Thận

Mè đen (vừng đen), còn gọi là hắc chi ma, có tên khoa học Sesamum indicum L. Đây là loại hạt giàu chất béo, trong đó phần lớn là các acid béo không bão hòa như acid oleic và acid linoleic. Mè đen cũng cung cấp protein thực vật, chất xơ cùng nhiều khoáng chất như canxi, magie, sắt, kẽm và một số vitamin nhóm B. Mè đen chứa các hợp chất lignan đặc trưng như sesamin và sesamolin, có hoạt tính chống oxy hóa. Thành phần dinh dưỡng cụ thể có thể thay đổi tùy giống, điều kiện trồng trọt và phương pháp chế biến.

Theo y học cổ truyền, mè đen (hắc chi ma) có vị ngọt, tính bình, quy vào các kinh Can, Thận và Đại trường. Dược liệu này được sử dụng với tác dụng bổ Can Thận, ích tinh huyết, nhuận tràng, thường được dùng trong các trường hợp táo bón do thiếu tân dịch, tóc bạc sớm, chóng mặt, hoa mắt, đau mỏi hoặc yếu gân cốt. Một số tài liệu YHCT còn ghi nhận công dụng bổ ngũ tạng, ích tinh tủy và dưỡng da.

Trong chế độ ăn hiện đại, mè đen là thực phẩm dễ sử dụng, có thể thêm vào cháo, sữa, salad, bánh hoặc các món ăn khác để tăng hương vị và bổ sung chất béo không bão hòa, protein, chất xơ và khoáng chất. Về dinh dưỡng, mè đen cung cấp protein thực vật, chất béo không bão hòa, chất xơ, canxi, sắt cùng nhiều hợp chất thực vật, trong đó có lignan; có thể sử dụng mè đen dưới dạng hạt rang, xay hoặc rắc lên cháo, salad và các món ăn khác để tăng thêm giá trị dinh dưỡng.

Các món ăn ngon, bổ dưỡng như:

  • Chè mè đen: Nấu mè đen xay nhuyễn với bột sắn dây và đường phèn, giúp bổ huyết, tốt cho tiêu hóa và phụ nữ mang thai.
  • Cháo mè đen: Mè đen giã nhỏ nấu chung với gạo tẻ thành cháo loãng ăn buổi sáng để dưỡng thận, nhuận tràng.
  • Mè đen trộn mật ong: Mè đen rang chín, tán bột, trộn đều với mật ong ăn mỗi ngày để tăng cường sức đề kháng.
  • Mè đen rang, đun nước uống hàng ngày.

Kiêng kỵ: Người bị tiêu chảy, tỳ vị hư hàn, đại tiện lỏng không nên dùng nhiều. Mè đen không độc, nhưng tránh kết hợp với các thực phẩm mang tính hàn, lạnh nhiều hoặc người bị thấp nặng vì dễ gây đầy, nê trệ.

4. Đậu phộng - Bổ dương, ích khí

Đậu phộng (tên khác: Lạc, đậu phụng, địa đậu, lạc hoa sinh) có tên khoa học là Arachis hypogaea.

Đậu phộng giàu chất đạm (protein) chiếm khoảng 25-26%, giàu các axit amin thiết yếu; chất béo chiếm khoảng 45-50%; vitamin và khoáng chất (vitamin E, vitamin B6, niacin, folate, magie, đồng, mangan); hợp chất sinh học (resveratrol, phytosterol, p-coumaric acid) và các isoflavone có tác dụng chống oxy hóa, bảo vệ tim mạch.

Đậu phộng có tính bình (hoặc hơi ôn), vị ngọt béo; quy vào các kinh tỳ, vị, phế; tác dụng bổ tỳ, ích vị, nhuận phế, hòa vị và sinh tân, hóa đờm, chỉ huyết, tiêu sưng, lợi tiểu và tăng tiết sữa, kiểm soát đường huyết. Chủ trị: Suy nhược cơ thể, ho khan do phế táo, tỳ hư chán ăn, ít sữa sau sinh, xuất huyết do giảm tiểu cầu (thường dùng màng vỏ đỏ của hạt).

Theo ThS. BS. LY. Nguyễn Đình Thục, thực phẩm này không nên ăn cùng đồ nhiều dầu mỡ khi đang bị tiêu chảy hoặc gout cấp. Sử dụng đậu phộng với lượng phù hợp có thể giúp đa dạng nguồn protein và chất béo trong khẩu phần.

Cách dùng trong món ăn:

  • Lạc luộc, lạc hấp: Giữ nguyên vị ngọt tự nhiên, dễ tiêu hóa, tốt cho người tỳ vị yếu.
  • Lạc rang, chiên muối: Làm món khai vị hoặc ăn kèm, làm bơ đậu phộng.
  • Nấu cháo hoặc hầm canh: Cháo đậu phộng bồi bổ cơ thể cho người ốm dậy, canh giò heo hầm đậu phộng giúp lợi sữa cho phụ nữ sau sinh.
  • Làm gia vị: Giã nhỏ rắc lên các món nộm, gỏi, phở cuốn, bún bò hoặc làm nước sốt gỏi cuốn.

Lưu ý: Kỵ thực phẩm, dược liệu chát, không ăn đậu phộng chung với quả hồng vì chất tannin trong hồng kết hợp với protein trong đậu phộng dễ gây kết tủa, đau bụng và sỏi dạ dày. Người bị bệnh gout cấp hoặc mỡ máu cao, béo phì không nên ăn nhiều vì lượng dầu mỡ và đạm cao làm giảm đào thải axit uric và tăng nặng tình trạng bệnh. Người bị viêm loét dạ dày mạn tính hoặc đang bị tiêu chảy, hệ tiêu hóa kém nên hạn chế ăn. Tuyệt đối không ăn đậu phộng đã bị mốc vì chứa độc tố aflatoxin gây nguy cơ ung thư gan cao. Người có tiền sử dị ứng đậu phộng cần tránh sử dụng do nguy cơ phản ứng dị ứng khi ăn.

Mời bạn xem thêm video:

Cản trọng khi dùng thực phẩm tăng cơ, bổ thận mua trên mạng - SKĐS


Ý kiến của bạn