Bộ phim bom tấn Avatar phát hành trên toàn thế giới năm 2009 đã báo hiệu sự khởi đầu của một thị trường rộng lớn trong tương lai. Với những ai quen với màn hình phẳng thông thường thì việc xem các hình ảnh không gian 3 chiều sống động như thật quả là một trải nghiệm bất ngờ. Nhưng điện ảnh không phải là lĩnh vực duy nhất có thể ứng dụng công nghệ 3D. Thực tế, công nghệ 3D đang thâm nhập rất nhanh vào nhiều lĩnh vực như sản xuất, kiến trúc, môi trường. Thậm chí công nghệ hình ảnh 3 chiều này còn đang thâm nhập vào cả lĩnh vực y tế.
Ngày nay, công nghệ hình ảnh 3D đang thu hút sự chú ý của nhiều người và lĩnh vực y học cũng không phải là một ngoại lệ. Nhiều bác sĩ cũng đang cố gắng tận dụng công nghệ mới này để điều trị bệnh. TS. Kim Young-woo thuộc Trung tâm ung thư quốc gia Hàn Quốc đã phát triển phương pháp soi ổ bụng 3D và đã thử áp dụng phương pháp này vào một cuộc phẫu thuật. Thay vì phương pháp mổ truyền thống, người ta sẽ tạo ra một lỗ nhỏ trong khoang bụng và đưa vào đó một ống kính nội soi có gắn camera 3D. Camera sẽ truyền về những hình ảnh 3D chân thật, rõ nét để các phẫu thuật viên có thể điều khiển các dụng cụ phẫu thuật chạm vào các cơ quan bên trong khoang bụng một cách chính xác. Công nghệ này đảm bảo độ an toàn hơn trong quá trình phẫu thuật.
Tế bào ung thư phổi. |
Ở Hàn Quốc, công nghệ 3D được dựng trong phương pháp nội soi và hiển thị hình ảnh y tế. Tia Xquang được tìm ra bởi GS. William Roentgen năm 1895 đã gây chấn động giới y học bởi nó cho phép các bác sĩ nhìn xuyên qua cơ thể con người mà không cần phẫu thuật. Kể từ đó tia Xquang được sử dụng phổ biến trong chẩn đoán y học. Sau đó, y học lại tiến thêm một bước mới trong công nghệ hình ảnh vào năm 1972 với sự phát triển của kỹ thuật chụp CT cho phép máy vi tính xử lý hình ảnh chụp cắt lớp. Tuy nhiên, phương pháp kiểm tra CT vẫn còn quá đắt. Hiện tại các bác sĩ đang mong chờ rất nhiều vào công nghệ ảnh 3D. Hình ảnh được chụp bởi 2 camera từ góc phải và góc trái được gộp vào thành một hình 3 chiều và công nghệ này được áp dụng vào phương pháp kiểm tra Xquang. Phương pháp này cho phép các bác sĩ phát hiện bất cứ thay đổi bệnh lý nào trong cơ thể bệnh nhân. Điều này trước kia chỉ có thể được xác định bằng phương pháp chụp CT tốn kém. Nhờ vào phương pháp mới này, các bác sĩ cũng có thể đơn giản hóa việc kiểm tra sinh thiết các tổ chức trong cơ thể.
Trứng người sau thụ tinh 5 ngày. |
Với các phương pháp chụp cắt lớp (CT) hay chụp cộng hưởng từ (MRI), các bác sĩ vừa nhìn hình ảnh vừa tiến hành phẫu thuật bằng cách đưa một cái kim hoặc một ống nhỏ gắn camera vào cơ thể bệnh nhân. Phạm vi sai số ở đây phải ít hơn 0,5mm, nếu không các mạch máu có thể sẽ bị vỡ hoặc thậm chí bị rách toạc ra. Các bác sĩ vừa phải theo dõi hình ảnh 2D trên màn hình, vừa phải tưởng tượng hình ảnh đó sẽ như thế nào trong không gian 3 chiều, điều đó đã gây không ít khó khăn cho họ khi tiến hành các thao tác phẫu thuật. Nay với việc ứng dụng công nghệ hình ảnh 3D, các bác sỹ có thể nhìn được các hình ảnh 3 chiều rõ nét ngay lập tức và tập trung hơn vào phẫu thuật. Điều này chắc chắn sẽ nâng cao hiệu quả phẫu thuật.
Các phế nang của phổi. |
Công nghệ hình ảnh 3D sẽ giúp tăng độ chính xác của các ca phẫu thuật. Trước đó, các bác sĩ thường phải tưởng tượng ảnh 3 chiều cơ thể người trong khi nhìn các hình ảnh phác họa 2 chiều. Tuy nhiên giờ đây, họ có thể phẫu thuật cho bệnh nhân khi nhìn trực tiếp những hình ảnh 3 chiều. Đặc biệt, phương pháp nội soi 3D có tác dụng giúp giảm thiểu rủi ro vỡ mạch máu trong quá trình phẫu thuật cũng như đảm bảo cho ca mổ nhanh chóng và an toàn hơn. Thêm vào đó, các bác sĩ cũng có thể quan sát được các mạch máu xoắn trong không gian 3 chiều và dễ dàng làm lưu thông các mạch máu bị nghẽn.
Các tế bào máu. |
Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ hình ảnh 3D trong y tế vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm. Người ta đặt câu hỏi liệu công nghệ này sẽ mang lại đột phá gì cho lĩnh vực y học trong tương lai? Các ứng dụng tiềm năng của công nghệ hình ảnh 3D là vô hạn. Từ trước đến nay, việc xem xét hình ảnh và đưa ra phán đoán đúng vai trò rất quan trọng trong điều trị bệnh. Các bác sĩ từ việc phải nhận biết các hình ảnh 2 chiều này đã có thể xem chúng trong không gian 3 chiều. Đây quả là một sự phát triển vượt bậc. Công nghệ mới này sẽ có khả năng áp dụng cho nhiều mục đích y tế khác nhau, từ giảng dạy và thực hành môn giải phẫu đến chẩn đoán và chữa trị lâm sàng cũng như hướng dẫn cho bệnh nhân...
Quỳnh Diệp (Theo Science et vie, Kbs)